NÔNG NGHIỆP SẠCH

 

Khang Pham (72KNN)

Gần đây tôi có cơ hội được tham dự một buổi hội thảo 3 ngày do O.A.C.C. tổ chức tại Agriculture Campus, Dalhousie University, Halifax, Canada với chủ đề “Công Nghệ Sạch Trong Nông Nghiệp”. Với nhiều điều được biết đến và học hỏi được những thành tựu của ngành nông nghiệp hiện đại thế kỷ thứ 21, xin được góp nhặt và viết lên bài liên quan, giới thiệu về nông nghiệp sạch trong quá trình hội nhập của Việt nam cùng thế giới.

[Image: Hinh%201a-OACC%20logo%28high%20Re%29.jpg?m=1513612170]

 

Nếu đối chiếu lại lịch sử canh tác của nông dân Việt Nam thì mấy ngàn năm qua, nông dân đã sử dụng các vật liệu, giống tự nhiên, không có hóa học, nên cũng được gọi là nông nghiệp hữu cơ. Tuy vậy cũng có khi chưa phải lúc nào cũng được gọi là nông nghiệp sạch.

Nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch về bản chất đều giống nhau là sản phẩm sạch, an toàn và truy nguyên được nguồn gốc nhưng khác nhau cơ bản về phương thức và điều kiện canh tác…

[Image: Hinh%201%20%288%29.JPG?m=1513612115]
Nông Trại Rau Sạch, Đà Lạt

Nông nghiêp hữu cơ hay còn gọi canh tác hữu cơ là một hệ thống nông nghiệp luân canh có nguồn gốc từ thế kỷ 20 ra đời trong sự thay đổi nhanh chóng các hệ thống canh tác trên thế giới. Nông nghiệp hữu cơ liên tục được phát triển bởi tổ chức Nông nghiệp hữu cơ khác nhau cho đến ngày hôm nay. Canh tác này chủ yếu dựa vào phân bón có nguồn gốc hữu cơ như phân từ gia súc gia cầm, phân xanh, phân trộn, bột xương, … tăng độ phì cho đất bằng nhóm cây trồng có tac dụng cải tạo đất. Nhấn mạnh vào các kỹ thuật luân canh giống cây trồng, kiểm soát dịch hại sinh học, sử dụng xen canh cây trồng khắc chế dịch hại hoặc khuyến khích sự tồn tại động vật là thiên địch của sâu bệnh dịch hại.

Nhìn chung, mặc dù có những ngoại lệ, tiêu chuẩn hữu cơ được biên soạn để cho phép người canh tác sử dụng các hợp chất tự nhiên chất và nghiêm cấm hoặc hạn chế các chất tổng hợp trong canh tác. Ví dụ, thuốc trừ sâu tự nhiên như [i]pyrethrin vàrotenon được phép, trong khi phân bón tổng hợp và thuốc trừ sâu là nói chung là bị cấm. Một số chất tổng hợp được phép sử dụng như: đồng sunfat (copper sulfate), bột lưu huỳnh và ivermectin. Cây trồng vật nuôi biến đổi gen, vật liệu na-nô, chất thải của người, chất điều hòa sinh trưởng thực vật, hóc-môn, chất kháng sinh trong chăn nuôi đều bị cấm.

Phương pháp nông nghiệp hữu cơ quốc tế quy định và thực thi trong khuôn khổ pháp luật của nhiều quốc gia, dựa phần lớn vào các tiêu chuẩn của Liên đoàn Quốc tế về trào nông nghiệp hữu cơ (IFOAM), một quốc tế tổ chức bảo trợ cho các tổ chức nông nghiệp hữu cơ được thành lập vào năm 1972.

Nông nghiệp hữu cơ có thể được định nghĩa:

– “Là một hệ thống kỹ thuật nuôi trồng kết hợp hướng đến sự bền vững, tăng cường độ phì của đất và sự đa dạng sinh học. Nông nghiệp hữu cơ cấm sử dụng thuốc trừ sâu bệnh tổng hợp, thuốc kháng sinh, phân bón tổng hợp, sinh vật biến đổi gen, hóc-môn tăng trưởng. mà phấn đấu cho sự bền vững, tăng cường độ phì của đất và sự đa dạng sinh học trong khi, với những ngoại lệ hiếm hoi, cấm thuốc trừ sâu tổng hợp, thuốc kháng sinh, phân bón tổng hợp, sinh vật biến đổi gen, và hormone tăng trưởng.”

– “Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất để duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Nó dựa trên quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và chu trình thích nghi với điều kiện địa phương, chứ không phải là việc sử dụng các yếu tố đầu vào có tác dụng phụ. Nông nghiệp hữu cơ kết hợp truyền thống, đổi mới và khoa học có lợi cho môi trường chung và thúc đẩy các mối quan hệ công bằng, một cuộc sống chất lượng cho tất cả tham gia… ” (Liên đoàn Nông nghiệp hữu cơ quốc tế, IFOAM)

Kể từ năm 1990, thị trường thực phẩm hữu cơ và các sản phẩm khác đã phát triển nhanh chóng, đạt 63 tỷ $ trên toàn thế giới vào năm 2012. Nhu cầu này đã thúc đẩy sự gia tăng tương ứng trong diện tích đất sản xuất nông nghiệp hưu cơ với 8,9% diện tích được gia tăng mỗi năm trong giai đoạn 2001-2011. Năm 2011 đã có khoảng 37 triệu hecta đất sản xuất trên thế giới áp dụng nông nghiệp hữu cơ, tương đương 0,9% tổng diện tích đất nông nghiệp trên toàn thế giới.

CapheNông nghiệp hữu cơ: là phương pháp SX theo kiểu tự nhiên, truyền thống lâu đời của con người mà tạo ra sản phẩm. Theo quy định của IFOAM (tổ chức bảo vệ quốc tế về nông nghiệp hữu cơ), khi sản phẩm được chứng nhận đạt tiêu chuẩn hữu cơ thì giống trồng do con người chọn lọc, bảo quản mà có, không phải là giống chuyển gen; đất trồng không sử dụng bất cứ loại phân hóa học, không dùng thuốc diệt cỏ, diệt sâu bệnh thuộc dạng hóa học và sử dụng nước sạch.

Nếu đất trước đó sử dụng các loại phân hóa học, thuốc BVTV thì phải cách ly khoảng 3 năm mới được sử dụng. Sản phẩm khi thu hoạch, vận chuyển, chế biến bảo quản phải được sử dụng công cụ và bao bì, đồ chứa đựng cũng sạch, khôn sử dụng các chất bảo quản cấm.

Nếu đối chiếu lại lịch sử canh tác của nông dân Việt Nam thì mấy ngàn năm qua, nông dân đã sử dụng các vật liệu, giống tự nhiên, không có hóa học, nên cũng được gọi là nông nghiệp hữu cơ. Tuy vậy cũng có khi chưa phải lúc nào cũng được gọi là nông nghiệp sạch.

[Image: Hinh%202%20%288%29-1666271821.jpg?m=1513612215]

CapheNông nghiệp sạch: Vẫn cho phép sử dụng tất cả các loại giống, kể cả giống chuyển gen, cho phép sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu, trừ cỏ bằng hóa học. Tuy nhiên khi kiểm tra sản phẩm thì sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn sạch. Người ta quy định sản phẩm sạch theo một hệ thống kết hợp kinh nghiệm và số liệu chứng minh mức độ tồn dư của chất nào đó trong từng sản phẩm mà con người sử dụng liên tục cũng không đủ sức gây độc hại đến cơ thể con người hay gia súc. Trong hoạt động SX cũng không gây ra ô nhiễm môi trường. Vượt ngưỡng quy định đó là thuộc loại sản phẩm không sạch. Dựa vào tiêu chuẩn quy định của từng nước, từng khu vực hay quy định chung của thế giới để đánh giá.

Như vậy người SX muốn sản phẩm của mình được tiêu thụ trong nước và thế giới thì phải bảo đảm được yêu cầu của họ. Người SX phải biết điều chỉnh số lượng phân bón, thuốc trừ sâu cho cây trồng, chọn nguồn nước đảm bảo dùng tưới cho đồng ruộng để đạt được tiêu chuẩn của từng loại khách hàng. Để thực hiện được tiêu chuẩn nông nghiệp sạch theo quy định này trên thế giới hiện nay đều dựa vào tiêu chuẩn của GAP, có thể VietGAP, Asean GAP hay GlobalGAP.

Tuy nhiên khi SX, người trồng phải theo dõi thông tin của khách hàng để điều chỉnh cho phù hợp. Ví dụ, người Nhật mua hạt tiêu của Việt Nam trước đây chỉ yêu cầu dư lượng Metalaxy trong hạt tiêu dưới ngưỡng 0,1ppm là được, nay người ta có yêu cầu cao hơn là phải đạt mức 0,05 ppm mới được. Biết được yêu cầu của khách hàng thì người SX hoặc không sử dụng loại thuốc này hoặc hạn chế tối đa sử dụng cũng như thời gian cách ly. Phân bón hóa học cũng vậy.

Muốn đạt chuẩn các chất dinh dưỡng không vượt mức cho phép thì phải giảm thiểu tối đa số lượng sử dụng, nhất là loại phân đạm. Thực tế SX sạch theo tiêu chuẩn GAP cũng không phải đơn giản. Ví dụ GlobalGAP gồm có 12 nội dung chính trong đó có 68 chỉ tiêu người SX phải tuân thủ. Các vật liệu và điều kiện SX phải có lý lịch rõ ràng. Sản phẩm cũng phải được kiểm tra, chứng minh bằng số liệu phân tích và cũng phải được một đơn vị có năng lực, có chức năng chứng nhận, khi cần có thể truy nguyên được nguồn gốc xuất xứ.

Nông nghiệp sạch đạt tiêu chuẩn VietGAP hay GlobalGAP ở Việt Nam đã có nhiều mô hình nhỏ có, mô hình cánh đồng lớn có, bà con đã làm quen, chỉ cần có tổ chức và giải quyết đầu ra ổn định thì khả năng mở rộng nhanh chóng và mạnh mẽ.

Vả lại SX sạch theo GAP vẫn cho phép sử dụng phân bón hóa học là nhân tố quan trọng làm tăng năng suất dễ hơn để có sản lượng nhiều hơn, đáp ứng được nhu cầu dân số ngày một tăng cao mà diện tích canh tác ngày một thu hẹp.

Vì vậy, SX theo hướng tăng cường phân bón hữu cơ, giảm thiểu lượng đạm và quản lý sâu bệnh theo hướng hữu cơ sinh học sẽ là bước đi chủ yếu…

Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp xuất khẩu hàng đầu thế giới, tuy nhiên, điều đáng buồn là những sản phẩm nông nghiệp đạt tiêu chuẩn cao, hữu cơ thì còn hiếm. Phương thức canh tác lạm dụng nhiều phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) biến môi trường và đất canh tác ngày càng xấu đi…

[Image: Hinh%203%20%285%29-1836790067.jpg?m=1513612257]

Nông nghiệp hữu cơ trên thế giới hiện đang có xu hướng phát triển nhanh với 51 triệu ha và tiềm năng thị trường tới gần 82 tỉ USD. VN hiện có 33/63 tỉnh, thành phố đã phát triển nhiều mô hình nông nghiệp hữu cơ, nhưng quy mô còn nhỏ với diện tích chỉ khoảng 76.000ha. Tín hiệu đáng mừng là ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ, trong đó có các thương hiệu lớn như Tập đoàn TH, Vingroups… và bước đầu đã thành công.

Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hữu cơ, một số diễn giả cho rằng, cần thay đổi cách tiếp cận về đất đai, hài hòa lợi ích giữa người nông dân và nhà đầu tư để có thể tích tụ đất đai với quy mô lớn. Bên cạnh đó, bài toán cải thiện chất lượng đất là rất quan trọng. Đó là việc chuyển được diện tích đất manh mún, với chất đất khác nhau thành đất đảm bảo tiêu chuẩn để sản xuất nông nghiệp hữu cơ và quy mô lớn… Một số đại biểu cũng cho rằng, cần thay đổi thói quen sản xuất của nông dân theo hướng sản xuất hữu cơ thông qua biện pháp tuyên truyền. Nông dân cũng phải được trang bị các kỹ năng, kiến thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ, biết cách tiếp cận thị trường và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh.

GS.TS. Nguyễn Thị G. (Đại học Cần Thơ) cho rằng, các nghiên cứu tại Đại học Cần Thơ cho thấy canh tác ứng dụng hướng hữu cơ đem lại nhiều lợi ích, cánh đồng trồng lúa 3 vụ, bón thêm phân hữu cơ tăng độ phì nhiêu, cải thiện đất và ổn định năng suất tốt hơn. Trên vườn cây ăn trái, nếu giảm đạm hóa học và phân lân, tăng phân hữu cơ giúp cây trồng bền vững hơn. Trên dưa hấu, bổ sung hữu cơ giảm được bệnh héo dây, tăng năng suất. Ngoài ra, khi sử dụng phân hữu cơ kết hợp nấm Trichoderma kiểm soát bệnh hại tốt hơn. Vì vậy, canh tác theo hướng hữu cơ là hướng đúng, trong đó rất cần nhiều sản phẩm hữu cơ – sinh học đáp ứng nhu cầu sản xuất. Về mặt canh tác, áp dụng hữu cơ sinh học cho nhiều lợi ích, cái khó hiện nay là sản phẩm làm ra chưa gắn được với thị trường.

TS. Đỗ Trung B. (Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam) cảnh báo, nhiều nơi đất canh tác bị ô nhiễm vượt mức an toàn, vì vậy định hướng canh tác hữu cơ (áp dụng phân hữu cơ, giảm hóa học và thuốc BVTV) là hướng đúng. Canh tác nông nghiệp hiện nay bón quá nhiều phân, thuốc hóa học sẽ gây áp lực rất lớn cho đất, đất gánh chịu tổn hại lớn và áp lực sâu bệnh ngày càng tăng. Điển hình ở Tây Nguyên, những vườn tiêu bón càng nhiều phân thuốc hóa học thì bệnh càng nhiều. Canh tác áp dụng hữu cơ trước mắt giúp cải thiện môi trường, đất, nâng cao chất lượng nông sản. Còn để sản xuất ra sản phẩm hữu cơ có thương hiệu, được chứng nhận để kinh doanh thì ở Việt Nam còn nhiều khó khăn. Chưa có hệ thống quản lý chất lượng nên người mua không thể nhận biết đó là sản phẩm hữu cơ, chưa có hệ thống chứng nhận. Việc cấp chứng nhận hữu cơ hiện giá cao (từ 70 – 100 triệu đồng)…

GS.TS. Nguyễn Thị G. cho biết, các báo cáo trên thế giới cho rằng khi chuyển sang canh tác hữu cơ hoàn toàn thì năng suất giảm 20%, tuy nhiên, năng suất sẽ tăng dần những năm về sau. Theo chuyên gia Nhật về canh tác hữu cơ, nếu đầu vào cho đảm bảo chất lượng tốt thì năng suất không giảm. Từ kinh nghiệm sản xuất thực tế, anh Nguyễn Thanh Liêm, giám đốc điều hành trang trại hữu cơ Zota (Lâm Đồng) cho rằng, canh tác rau màu hữu cơ năng suất không thua kém canh tác hóa học. Quan trọng là biện pháp canh tác và nguyên liệu phục vụ canh tác chất lượng tốt. TS. Nguyễn Đăng N., giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp nhiệt đới, cho biết canh tác hữu cơ tất yếu sẽ giảm chi phí thuốc BVTV. Còn về năng suất, nếu canh tác đúng thì năng suất từ bằng hoặc cao chứ không thấp hơn. Vấn đề hiện nay là hỗ trợ nông dân thay đổi cách canh tác theo hướng hữu cơ, nghĩa là canh tác bền vững, an toàn, không lạm dụng phân, thuốc hóa học.

Lúa Gạo Việt Nam với Công nghệ Sạch

Nông dân Tiền Giang trồng lúa theo tiêu chuẩn GlobalGAP

Những tiêu chuẩn về giống, quy định sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật được nông dân tuân thủ khắt khe.

[Image: Hinh%204%20%289%29.jpg?m=1513612301]

Huyện Cai Lậy – phía tây tỉnh Tiền Giang là vựa lúa được quy hoạch canh tác lúa chất lượng cao. Một năm 3 vụ lúa, thu nhập chính của nông dân đến từ cây trồng này. Tuy nhiên, giá cả lên xuống, biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến năng suất khiến vụ mùa của người dân cũng trở nên bấp bênh. Từ khi áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cánh đồng mẫu lớn được triển khai, nhiều doanh nghiệp và nông dân kết nối với nhau, giá trị của hạt gạo Tiền Giang cũng thay đổi tích cực.

[Image: Hinh%20A%20%2817%29.jpg?m=1513619875]

Một mô hình liên kết giữa khác là của nông dân ấp Giồng Tân, xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông với Công ty lương thực Tiền Giang. Theo liên kết, doanh nghiệp hỗ trợ người trồng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài ra, nông dân còn thường xuyên được tập huấn, hướng dẫn về kỹ thuật canh tác sao cho không tồn dư hóa chất khi thu hoạch. Sau khi thu mua, lúa đạt tiêu chuẩn được đưa về kho chứa để cân, sàng tạp chất loại bỏ rơm, đá, sạn. Sau đó, người làm tiến hành bóc vỏ trấu tạo thành gạo lức. Hệ thống quạt gió thổi hết vỏ trấu, gạo lức còn lại đi vào hệ thống sàng để loại bỏ thóc còn lẫn rồi mới chuyển sang công đoạn say xát, đánh bóng. Sau cùng, hạt gạo trắng, bóng, được tách màu rồi đem đi đóng gói theo tiêu chuẩn.

Ngày nay, hạt gạo Tiền Giang không chỉ được tiêu thụ ở thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ, Trung Quốc.

Hiện, hợp tác xã đã xuống giống xong vụ đông xuân 2017-2018 trên diện tích 92ha. Dự kiến, thời gian thu hoạch là tháng 3 dương lịch năm sau. Giống lúa chủ lực là OM 4900 và lúa cẩm. Năng suất cao nhất đạt đến 8-9 tấn một ha. Hiện, Công ty TNHH ADC đã thu mua lại toàn bộ lúa của 7 xã viên.

Theo mô hình liên kết này, doanh nghiệp hỗ trợ người dân toàn bộ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Chi phí hỗ trợ được trừ vào tiền thu mua lúa cuối vụ.

Chăn Nuôi và Công Nghệ Sạch

Những năm gần đây, người dân ở xã Trác Văn, Duy Tiên, Hà Nam đã áp dụng tiêu chí “5 không” trong chăn nuôi bò sữa. Cụ thể là không cám công nghiệp, không thức ăn biến đổi gen, không chất kích thích tăng sữa, không chất bảo quản và không tồn dư kháng sinh.

[Image: Hinh%205%20%282%29-1439923450.jpg?m=1513612328]

Khẩu phần ăn của bò gồm 80% là thức ăn tươi xanh lấy từ các loại cỏ tự nhiên và thân, bắp ngô được ủ yếm khí; 20% còn lại là thức ăn tinh như bột ngô, bột đậu tương, cám gạo. Chế độ này giúp hệ tiêu hóa của bò hoạt động tốt hơn, đồng thời tăng sản lượng và chất lượng sữa.

Hàng tuần, trang trại đều được phun enzym khử trùng một lần, nhằm hạn chế nguồn bệnh ảnh hưởng tới sức khỏe của bò. Ngoài ra, đàn bò thường xuyên được tắm chải, nghe nhạc, chạy nhảy để giữ tinh thần thoải mái và cho ra lượng sữa tốt nhất. Mỗi năm, trang trại bò sữa tại Trác Văn cung cấp 2 triệu lít sữa cho thị trường Hà Nam và Hà Nội.

Cây Ăn Trái và Công Nghiệp Sạch

Hiện nay, Việt Nam đang đàm phán để xuất khẩu thêm thanh long ruột đỏ sang Nhật. Sau đó là các mặt hàng như vải, nhãn, chôm chôm, vú sữa…

Các loại trái cây chiến lược của Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu không chỉ sang Nhật Bản mà sang nhiều thị trường lớn khác. Đây là một trong những lợi thế trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Người nông dân có thể hạn chế bớt trồng lúa để tập trung trồng cây ăn quả. Đặc biệt, khi trồng cây ăn quả không cần tăng diện tích mà chỉ cần tập trung nâng cao chất lượng lên nhằm ngày càng đáp ứng yêu cầu và tiếp cận được nhiều thị trường lớn. Khi đó, giá trị các mặt hàng trái cây có thể được nâng lên nhiều lần.

Sau đây là những trái cây được trồng với công nghệ sinh học sạch xuất khẩu sang nước ngoài:

1. Thanh Long:

Đây là một cột mốc mới trong quá trình trái thanh long chinh phục thị trường thế giới, là lô hàng đầu tiên kể từ khi thanh long Việt Nam được Úc chính thức chấp nhận nhập khẩu thanh long tươi từ tất cả các vùng sản xuất thanh long thương mại của Việt Nam vào tháng 1-2017.

[Image: Hinh%206%20%282%29-1747176163.jpg?m=1513612362]
[Image: Hinh%207%20%282%29-1282636399.jpg?m=1513612387]

Là loại trái cây xuất khẩu chủ lực với kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt hơn 895 triệu USD, chiếm tỷ trọng 50,3% trong xuất khẩu trái cây tươi và 36,1% trong tổng xuất khẩu rau quả của Việt Nam, thanh long đã có thể đáp ứng các tiêu chí và yêu cầu của nhiều thị trường như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Mỹ …

Người Việt bên Úc sẽ có dịp thưởng thức trái Thanh Long sản xuất ở Long An, Tiền Giang, một đặc sản hương vị quê hương.

2. Xoài Miền Tây:

Từ ngày 17-9 đến nay, việc xuất khẩu xoài vào thị trường Nhật Bản diễn ra khá thuận lợi. Hiện nay, xoài đang được xuất khẩu sang Nhật với giá khoảng 8-10 USD/kg. Giá này khá cạnh tranh khi thấp hơn giá xoài của Thái Lan khoảng 2-3 USD/kg.

[Image: Hinh%208%20%281%29-2063297057.JPG?m=1513612425]
[Image: Hinh%209%20%281%29-1866922528.jpg?m=1513612450]

Xoài Việt có lợi thế lớn ở thị trường Nhật Bản nhờ sự thơm ngon, có thể sản xuất và cung cấp quanh năm. Bên cạnh đó, khoảng cách giữa Việt Nam và Nhật không lớn.
Một trong những yếu tố khiến bắt đầu từ sang năm xuất khẩu xoài sang Nhật có sự đột phá là bởi lúc đó người tiêu dùng Nhật Bản đã bắt đầu quen với xoài Việt Nam. Các nông dân trồng xoài cũng như doanh nghiệp tham gia xuất khẩu đã có thêm kinh nghiệm, quen thuộc thị trường.

3. Nhãn Lồng Hưng Yên:

Hưng Yên giờ đây đã là thủ phủ của các loài nhãn, nhiều giống nhãn mới lạ khác được trồng như: nhãn nước, nhãn gỗ, nhãn Hương Chi, nhãn Miền Thiết…nhưng tất cả chỉ có loại nhãn lồng Hưng Yên này là ngon nhất. Những quả nhãn vẫn giữ được cùi dày, mọng nước, vị ngọt thơm ăn bao lần vẫn thấy ngon lạ miệng như lần đầu. Cả tỉnh Hưng Yên có gần 3.000 ha nhãn, sản lượng mỗi năm lên tới 40.000 tấn quả, đem lại giá trị khoảng 300 tỷ đồng, góp 15% vào giá trị sản xuất nông nghiệp cho cả nước, nước ta coi đây là một loại nông sản trọng điểm.

[Image: Hinh%2010.jpg?m=1513612735]

VN sẽ xuất khẩu khoảng 5 tấn nhãn lồng Hưng Yên sang Mỹ, sau đó sẽ xuất khẩu với số lượng lớn hơn. Nhãn lồng Hưng Yên có chất lượng tốt, cơm dày, ngọt nên sẽ được thị trường nhập khẩu ưa chuộng. Vì DN phải tốn chi phí nhân lực ra hướng dẫn, thu hoạch, vận chuyển vào nhà máy chiếu xạ tại TP.HCM nên giá xuất khẩu nhãn lồng Hưng Yên sẽ cao hơn giá nhãn Edor đang xuất bán khoảng 15%.

4. Hoa Hồng Đà Lạt:

Bằng việc trồng hoa theo công nghệ hiện đại bậc nhất, hoa hồng Dalat Hasfarm đang được khách hàng tin dùng và giới thiệu cho nhau sử dụng. Nhắc đến Dalat Hasfarm, người dùng sẽ nghĩ ngay đến hoa hồng – một trong những sản phẩm hoa chủ lực của công ty. Để có được những cành hồng tươi và rực rỡ, không có bí mật nào ngoài việc mỗi cá nhân vừa phải là một chuyên gia trong công đoạn của mình; vừa phải là chính khách hàng để trồng hoa với tất cả tấm lòng.

[Image: Hinh%2011.jpg?m=1513612518]

Ngay từ giai đoạn chọn giống, các chuyên gia phải gõ cửa nhà cung cấp uy tín khắp nơi trên thế giới để chọn ra những ngọn giống tốt nhất. Những ngọn giống này phải trải qua 2 đợt đánh giá và trồng thử nghiệm kéo dài gần 3 năm để tạo ra các giống Hồng thuần chủng (pure breeding). Sau đó mới được sản xuất đại trà (mass production). Kế tiếp, hoa được trồng, chăm sóc theo mô hình phát triển bền vững, thân thiện với môi trường và giảm thiểu việc sử dụng hóa chất. Bằng cách sử dụng hệ thống xử lý, tái sử dụng nước thừa tiên tiến nhằm tiết kiệm nước, góp phần giúp môi trường thêm xanh, những cành hồng ở Dalat Hasfarm được hít thở không khí trong lành, tưới tắm trong nguồn nước sạch. Đặc biệt, hoa được chăm sóc từ các chế phẩm sinh học (Bio-Pro) nên mỗi cành hoa khi đến tay người dùng đều đạt tiêu chuẩn an toàn với chất lượng tốt nhất.

Phát triển nông nghiệp sạch gắn với công nghệ cao, theo đó mở rộng ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ sinh học vào sản xuất nông sản sạch là mục tiêu hiện nhiều tỉnh thành VN đang hướng tới.

Tại Nhật Bản và Israel, các dự án khởi nghiệp từ nông nghiệp công nghệ cao (CNC) đã từ lâu mang lại cho người dân nguồn sản phẩm sạch, không sử dụng thuốc trừ sâu, chất kích thích… Hiện nay, ở Việt Nam, nông nghiệp sạch cũng không còn là khái niệm mới mẻ mà đã thực sự trở thành nguồn cảm hứng được nhiều bạn trẻ theo đuổi khi khởi nghiệp.

Để tạo cho đầu ra của sản phẩm nông nghiệp sạch, người nông dân cần thay đổi tập quán canh tác, chủ động tiếp cận, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất; ngành chức năng tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra quy trình sản xuất, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, dán nhãn mác cho từng loại sản phẩm hữu cơ, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, sắp xếp lại mạng lưới phân phối.

Theo Liên đoàn các Phong trào canh tác nông nghiệp hữu cơ quốc tế, IFOAM, vai trò của nông nghiệp hữu cơ trong canh tác, chế biến, phân phối hay tiêu dùng đều nhằm mục đích duy trì sức khỏe hệ sinh thái và các sinh vật kể cả các sinh vật có kích thước nhỏ nhất sống trong đất đến con người.

Canh tác hữu cơ sẽ cải thiện và duy trì cảnh quan tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp, tránh khai thác quá mức gây ô nhiễm môi trường trong tự nhiên, giảm thiểu sử dụng năng lượng và các nguồn không tái sinh để sản xuất ra lương thực mà không gây độc hại, có chất lượng cao, đồng thời đảm bảo, duy trì và làm tăng độ màu mỡ cho đất trong thời gian dài, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại, đặc biệt là chu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, làm đa dạng mùa vụ và các loại vật nuôi sao cho phù hợp với điều kiện của địa phương. Chấp hành vệ sinh an toàn thực phẩm, cung cấp thực phẩm sạch cho người tiêu dùng.

Tóm lại, phát triển nông nghiệp sạch ứng dụng công nghệ cao là chiến lược của VN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với xu thế chung của thế giới, việc sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển nông nghiệp giúp nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, nâng cao thu nhập và bảo vệ sức khỏe không những cho người sản xuất, mà lại bảo đảm sức khỏe cho người tiêu dung.

Reference

1. Nông nghiệp hữu cơ.
https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_…Fu_c%C6%A1
2. Viện Khoa Học Kỹ Thuật Miền Nam. CAY LUA
http://iasvn.org/chuyen-muc/Cay-Lua-0008…ang-1.html
3. SOFRI – VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY ĂN QUẢ MIỀN NAM
http://sofri.org.vn/Default.aspx?l=&pg=1&cat=3
4. ORGANIC AGRICULTURE CENTRE OF CANADA, (O.A.C.C.)
https://www.dal.ca/faculty/agriculture/r…anada.html