Post Reply 
 
Thread Rating:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Ý Hay Lời Đẹp
06-25-2019, 08:36 PM
Post: #21
RE: Ý Hay Lời Đẹp
Hãy sống khát khao. Hãy sống dại khờ


Đây là diễn văn lễ tốt nghiệp do Steve Jobs (Tổng quản trị hãng Apple Computer và Pixar Animation Studios) đọc ngày 12 tháng 6 năm 2005 tại trường đại học Stanford, California.
Bài dịch này T đọc được đã lâu trên 'internet', nay tình cờ đọc lại, vẫn thấy hay nên muốn chia sẻ với bạn đọc.


Tôi rất vinh hạnh được hiện diện hôm nay cùng các bạn tại lễ tốt nghiệp của (Stanford,) một trong vài trường đại học ưu tú nhất trên thế giới. Tôi chưa bao giờ tốt nghiệp đại học. Thực vậy, dịp này có lẽ là dịp duy nhất tới nay tôi dự phần vào lễ ra trường. Hôm nay tôi muốn thưa với bạn ba câu chuyện của đời tôi. Chỉ đơn giản vậy thôi. Không có gì to tát cả, chỉ có ba câu chuyện.

Nối các chấm lại với nhau

Chuyện đầu tiên là về việc “nối các chấm lại với nhau.”

Tôi bỏ học trường Reed College chỉ sau sáu tháng theo học, nhưng cũng còn ráng nán lại gần một năm rưỡi để học thêm một số lớp nữa trước khi thực sự thôi học. Có lẽ bạn sẽ hỏi vì sao tôi bỏ học?

Chuyện đó bắt nguồn ngay từ truớc khi tôi chào đời. Mẹ ruột tôi là sinh viên trẻ đang theo học để lấy bằng cao học, rủi có bầu ngoài hôn thú, và đã quyết định cho tôi làm con nuôi người khác. Bà ấy rất muốn tôi được làm con của một gia đình khoa bảng, do đó tôi đã được thỏa thuận sẽ được làm con nuôi của một cặp gia đình luật sư. Có một trục trặc là khi tôi ra đời thì cặp vợ chồng này đổi ý vì họ thực sự muốn nuôi một đứa con gái. Khi đó thì cha mẹ nuôi tương lai của tôi nhận được một cú điện thoại lúc nửa đêm hỏi rằng nhà thương có một đứa con trai mới sinh, và rằng cha mẹ tôi có muốn nhận nó hay không? Họ trả lời “Dĩ nhiên rồi,” vì họ cũng đang trong danh sách chờ xin con nuôi. Mẹ ruột tôi sau đó phát giác rằng mẹ nuôi tôi chưa hề tốt nghiệp đại học, còn ba tôi cũng chưa hề tốt nghiệp trung học. Bà từ chối không chịu ký giấy cho con nuôi. Vài tháng sau bà mới ưng thuận khi ba mẹ nuôi tôi hứa với bà rằng sẽ cho tôi theo học đại học.

Mười bảy năm sau quả tình là tôi được học đại học. Nhưng tôi đã quá ngây thơ khi chọn một đại học cũng tốn phí ngang như trường Stanford, thế là cả món tiền lao động lam lũ mà ba mẹ tôi dành dụm đều tiêu vào tiền học cả. Sau sáu tháng học hành, tôi chẳng thấy việc theo học này ích lợi chi cả. Tôi không có một ý tưởng sự nghiệp sau này sẽ ra sao, và chẳng biết học đại học rồi có giúp cho tôi tìm ra được câu trả lời hay không, trong khi tôi đang tiêu sạch món tiền mà ba mẹ tôi khổ nhọc dành dụm bấy lâu. Thế nên tôi quyết định bỏ học và tin rằng mọi sự sẽ tốt đẹp sau này. Quả là khi đó thì quyết định này liều lĩnh thật, nhưng nhìn lại thì nó là một trong những quyết định tuyệt vời nhất của tôi. Ngay sau khi quyết định thôi học, tôi bỏ hết các môn bắt buộc và bắt đầu chỉ lấy những lớp tôi cảm thấy hay ho.

Đời sinh viên khi ấy cũng chẳng thơ mộng gì cho lắm. Tôi không có phòng trọ riêng, vì thế tôi ngủ tạm sàn nhà của các bạn học, rồi tôi đi lượm những lon nước ngọt để bán lại với giá 5 xu tiền ký thác mỗi lon, rồi dùng tiền này để mua thức ăn. Tôi còn nhiều lần đi bộ 7 dặm xuyên thành phố tới đền thờ Hare Krisna mỗi chủ nhật để được ăn tối miễn phí. Tôi (chẳng nề hà chi cả mà còn) cảm thấy thích thú nữa là đằng khác. Những điều tôi chạm trán khi theo đuổi trực giác cũng như thỏa mãn trí tò mò sau này lại trở nên vô giá. Để tôi lấy một thí dụ:

Trường Reed khi ấy có mở lớp dạy viết thư pháp (calligraphy) và có ban giảng huấn vào bậc nhất trên toàn quốc. Các biểu ngữ trong khuôn viên trường cũng như các nhãn tên trên ngăn tủ đều được viết bằng tay thật đẹp. Vì tôi đã bỏ học và không còn phải học các lớp bắt buộc nữa, tôi quyết định theo học lớp thư pháp để học cách vẽ như thế. Tôi học về các kiểu chữ serif và sans serif, về sự gia giảm khoảng cách giữa các ký tự không cùng kiểu chữ, và tại sao các kiểu chữ đẹp lại đẹp toàn hảo như vậy. Tôi cảm thấy bị quyến rũ bởi các kiểu chữ tuyệt đẹp này, chúng có một bề dày lịch sử, rất nghệ thuật với một độ tinh tế mà khoa học không tài nào lột tả được.

Lúc đó tôi nghĩ những điều tôi học kể trên chẳng có một ứng dụng thực tiễn nào cho đời tôi cả. Thế nhưng mười năm sau, khi chúng tôi thiết kế cái máy Macintosh thế hệ đầu tiên, những điều tôi học được lại hiện lên rõ ràng. Tôi đã đem hết những hiểu biết có được để ứng dụng vào máy Mac. Đấy là máy điện toán đầu tiên với các kiểu chữ thật đẹp. Nếu tôi không theo học lớp thư pháp, máy Mac có lẽ chẳng bao giờ có nhiều thiết kế khác nhau trong cùng một kiểu chữ (typeface) hay các kiểu chữ có khoảng cách thay đổi theo tỷ lệ(proportionally spaced fonts.) Và vì hệ điều hành Windows nhái hệt theo Mac, có lẽ sẽ chẳng có máy tính nào hiện nay sẽ có các kiểu chữ đẹp như ta đang quen dùng. Nếu tôi không bỏ học, có lẽ tôi chẳng theo học lớp thư pháp, và có lẽ sẽ chẳng có máy tính nào hiện nay sẽ có các kiểu chữ đẹp như vậy. Dĩ nhiên khi tôi còn đang đi học thì tôi chẳng tài nào nối các dữ kiện này với nhau để tiên đoán tương lai, nhưng mười năm sau nhìn lại thì mọi việc đều trở nên rõ ràng.

Tình Yêu và sự Mất mát

Chuyện thứ hai tôi sẽ kể là về tình yêu và sự mất mát.

Tôi là nguời rất may mắn – Tôi tìm thấy điều tôi muốn làm khi tôi còn rất trẻ. Woz (Steve Wozniak) và tôi sáng lập hãng Apple trong nhà xe của ba mẹ tôi khi tôi chỉ mới 20 tuổi. Chúng tôi làm việc cật lực, và chỉ trong 10 năm Apple đã lớn mạnh từ hai chúng tôi thành một công ty trị giá hai tỷ mỹ kim với trên 4000 nhân viên. Chúng tôi vừa cho ra lò sản phẩm tuyệt hảo nhất – máy Macintosh – chỉ một năm trước đó, và tôi thì vừa tròn 30 tuổi. Và tôi bị đuổi việc. Làm sao mà bạn lại bị đuổi việc từ chính công ty bạn sáng lập? Xin thưa rằng, khi Apple khuyếch truơng chúng tôi có mướn một người mà riêng tôi nghĩ là rất có tài để cùng chung điều khiển công ty, và quả nhiên trong năm đầu tiên thì mọi sự tiến triển tốt đẹp. Nhưng càng ngày thì tầm nhìn về tương lai giữa tôi và người ấy càng ngày càng cách biệt và rồi những bất đồng xảy ra. Hội đồng quản trị lại đứng về phe ông ta. Thế là tôi phải ra đi. Ra đi ê chề trước nhãn quan mọi người. Những gì tôi chú tâm vào làm trong cả đời đột nhiêu bị tan biến, tôi cảm thấy hoàn toàn thất bại.

Suốt mấy tháng sau đó, tôi thực sự chẳng biết phải làm gì nữa. Tôi cảm thấy là tôi đã làm thất vọng cả thế hệ doanh nhân trước thời của tôi, rằng tôi đã làm rớt ngọn đuốc Olympic khi nó được truyền cho tôi. Tôi gặp David Packard và Bob Noyce rồi tìm cách xin lỗi họ vì đã làm những sai lầm quá tệ hại. Tôi là một người nổi tiếng đã bị thất bại, và tôi cũng đã từng nghĩ đến chuyện chạy trốn khỏi thung lũng hoa vàng. Nhưng dần dà tôi nhận thức ra một điều, đó là tôi vẫn còn yêu thích những gì tôi đã làm. Những sự kiện liên tiếp xảy ra ở Apple chẳng làm thay đổi lòng đam mê của tôi chút nào. Tôi bị khước từ, nhưng tôi vẫn còn lòng say mê. Thế là tôi quyết định làm lại từ đầu.
 
Lúc đó tôi chẳng hề nhận thức rằng bị đuổi khỏi Apple lại chính là cái may lớn nhất trong đời. Cái sức ép ngàn cân như là một doanh nhân thành đạt trước kia nay được thế bằng cái cảm giác nhẹ tợ lông hồng của một người vừa khởi nghiệp, chẳng còn chắc mẩm về bất cứ cái chi nữa cả. Sự thanh thoát này đã giúp tôi bước vào một trong các giai đoạn sáng tạo lẫy lừng nhất trong đời tôi.
 
Trong năm năm sau đó, tôi sáng lập một công ty với tên gọi NeXT, rồi một công ty khác nữa có tên gọi Pixar, rồi tôi phải lòng một phụ nữ rất tuyệt vời, cô sau này cùng tôi nên duyên vợ chồng. Hãng Pixar sau đó phát triển không ngừng để sáng tạo ra phim hoạt hình vẽ bằng công nghệ điện toán đầu tiên trên thế giới với tựa đề “Chuyện của các đồ chơi” (Toy Story.) Hiện thời, Pixar là hãng làm phim hoạt hình thành công nhất trên thế giới. Tiếp theo đó, với những bước ngoặt thật đáng kể, Apple mua lại hãng NeXT, tôi trở lại Apple, và nay thì những công nghệ chúng tôi phát minh tại NeXT đang là cốt lõi của sự phục hưng tại Apple. Thêm vào đó, tôi và Laurence đang chung xây một mái nhà tranh với hai quả tim vàng.
 
Tôi đoan chắc những điều vừa kể trên chẳng thể nào xảy ra được nếu như tôi chẳng bị đuổi việc. Đúng là thuốc đắng dã tật. Đôi khi đời đá ta như bị bò đá. Đừng bao giờ mất niềm tin, các bạn ạ. Tôi đoan chắc là chỉ có lòng say mê với công việc mình yêu thích mới làm tôi vực dậy nổi sau khi đã ngã sóng xoài. Bạn phải tìm ra cho bằng được bạn say mê cái gì. Điều này cũng đúng cả khi bạn yêu thích một công việc cũng như khi bạn tìm kiếm người trong mộng. Vì công việc bạn làm sẽ chiếm trọn một phần đời của bạn, cách duy nhất khiến bạn có thể thực sự toại nguyện là khi bạn làm những gì bạn cảm thấy là việc to tát như vá biển lấp trời. Cách duy nhất để có thể làm những việc đội đá vá trời như vậy là bạn phải yêu thích những gì bạn đang làm. Nếu bạn chưa tìm ra những việc làm thỏa mãn như vậy, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng thỏa hiệp với sự tầm thường. Cũng hệt như tiếng gọi của con tim, bạn sẽ tự cảm nhận được một khi nào bạn tìm ra được việc làm yêu thích. Và, cũng hệt như những mối tình lớn khác, lòng đam mê với việc đã chọn sẽ chỉ tăng dần theo năm tháng. Vì thế hãy gắng tâm tìm kiếm cho tới khi tìm thấy công việc làm bạn đam mê. Đừng thỏa hiệp với chính bạn.
 
Lưỡi hái của Tử thần
 
Câu chuyện sau cùng là về sự chết.
 
Khi tôi mới 17 tuổi, tôi có đọc được một danh ngôn đại loại là: “Nếu bạn sống mỗi ngày như là ngày cuối đời bạn, dần dà đời bạn sẽ khá hơn lên.” Câu danh ngôn này để lại một dấu ấn trong tôi, rồi suốt 33 năm qua mỗi sáng tôi đều nhìn vào gương và tự hỏi mình: “Nếu hôm nay là ngày cuối cuộc đời tôi, tôi còn ham muốn làm những gì tôi sắp làm hôm nay không?” Mỗi khi tôi trả lời “Không” liên tiếp chừng tuần lễ, tôi tự biết tôi cần phải thay đổi một cái gì đó.
 
Luôn tự nhủ là tôi sẽ phải chết sớm thực là một tuyệt chiêu, nó giúp tôi nhiều phen khi phải làm những quyết định quan trọng trong đời. Bởi chưng mọi thứ quanh ta – từ những trông mong ngoại cảnh vào khả năng của ta, những tự mãn cùng nỗi sợ hãi bị làm mất thể diện hay sợ thất bại – những điều như trên chẳng còn nghĩa lý gì nữa khi ta chạm mặt tử thần. Lúc đó chỉ còn những gì tối hệ trọng mới đáng kể. Luôn ghi nhớ rằng tôi sắp chết là cách tốt nhất tôi dùng để tự đối phó mỗi khi tôi nghĩ tôi sắp thua một ván bài nào đó. Khi bạn bị dồn vào chân tường và bị lột trần như nhộng, còn gì mất nữa đâu và bạn an nhiên nghe theo tiếng lòng mình.
 
Khoảng một năm về trước, tôi bị chẩn đoán là mắc bệnh ung thư. Tôi được chụp quang ảnh ngay từ khoảng bẩy giờ rưỡi sáng hôm đó, kết quả cho thấy rõ ràng tôi bị bướu ở tụy tạng (pancreas.) Lúc ấy tôi cũng chả biết tụy tạng là cái gì. Các bác sĩ bảo tôi rằng loại ung thư này thuộc loại vô phương cứu chữa, và rằng tôi chỉ còn sống được cao lắm là từ ba tới sáu tháng mà thôi. Bác sĩ khuyên tôi nên về nhà “giải quyết chuyện gia đình cho có trước sau,” hàm ý bảo tôi về nhà chuẩn bị chết đi là vừa. Đối với tôi, điều này có nghĩa là tôi phải gom cho gọn lại những gì tôi sẽ dạy bảo cho lũ con tôi trong mười năm để chỉ dạy dỗ trong vòng vài ba tháng. Điều này cũng có nghĩa là tôi sẽ phải bạch hóa mọi chuyện trong nhà để người thân của tôi còn biết đường lo liệu. Điều này có nghĩa là tới giờ đi chào vĩnh biệt mọi người.
 
Tôi đã sống với cái chẩn đoán đó suốt ngày. Tới tối,tôi được làm một phẫu thuật nhỏ (sinh thiết,) người ta thọc một ống nội soi qua cổ họng, xuống dạ dày tới ruột, rồi cho một kim chích vào tụy tạng để lấy vài tế bào của cục bướu. Tôi được chích thuốc gây mê, nhưng vợ tôi cũng có mặt ở phòng mổ đã kể lại rằng khi các bác sĩ khám nghiệm các tế bào này qua kính hiển vi, họ đã reo lên vì cục bướu của tôi thuộc loại bướu tụy rất hiếm và có thể khỏi bịnh được sau khi đã lấy nó ra. Tôi đã trải qua cuộc phẫu thuật để lấy ra cái bướu đó và khỏi bịnh rồi.
 
Có lẽ đây là lần tôi cận kề cái chết nhất trong đời, tôi mong sẽ chẳng phải trải qua một thử thách nào tương tự trong ba bốn mươi năm tới. Đã trải qua kinh nghiệm sinh tử này, tôi muốn nhắn nhủ các bạn đôi điều:
 
Chẳng ai muốn chết cả. Ngay cả những ai muốn lên Thiên Đàng cũng không muốn phải chết trước rồi mới tới nơi ấy. Tuy vậy, sự chết là điều mà ai cũng sẽ phải trải qua. Chưa ai vượt thoát khỏi sự chết. Và điều này thì cũng tự nhiên thôi, bởi chưng Sự chết là sáng chế tuyệt vời, độc nhất vô nhị của Sự sống. Nó là tác nhân làm thay đổi Sự Sinh Tồn. Nó dẹp bỏ đi những gì cũ kỹ để dọn chỗ cho cái mới tiếp vào. Ngày hôm nay các bạn chính là cái mới đấy, nhưng một ngày nào đó trong tương lai gần, các bạn sẽ lão hóa và sẽ bị sa thải khỏi địa cầu. Xin lỗi các bạn vì tôi có vẻ như cường điệu hóa quá đáng, nhưng đây là sự thật.
 
Vì sự hiện hữu của các bạn chỉ có hạn, bạn chẳng nên sống cho người khác. Đừng bị bó buộc bởi những giáo điều, vì chúng sẽ làm bạn sống với những khuôn khổ do người khác đặt ra. Đừng để những ý kiến của người khác làm nhiễu loạn cái tâm của bạn. Trên hết, hãy can đảm đi theo tiếng gọi của trực giác và khởi tự tâm mình. Những tiếng lòng này thật vi diệu vì chúng biết rõ bạn sẽ ra sao ngày sau. Mọi thứ khác trên đời chỉ còn là thứ yếu.
 
Khi tôi còn trẻ, tôi thường mua một quyển sách rất đặc sắc tên là “ Thư Mục Toàn Cầu“, sách này là một trong những sách gối đầu giường của thế hệ chúng tôi. Người sáng lập thư mục sách trên là ông Steward Brand, cũng là một cư dân sống rất gần khuôn viên trường ta, ông đã cho ấn phẩm này một sức sống đặc biệt qua tài năng nghệ thuật tuyệt vời của ông. Nên nhớ là sách ra mắt vào khoảng cuối thập niên sáu mươi, trước khi máy điện toán cá nhân và nhu liệu xuất bản sách báo ra đời, nên những gì bạn xem đều được làm rất thủ công bằng máy đánh chữ, kéo, và máy chụp hình lấy liền (polaroid.) Sách có nội dung tương tự như một loại Google để tra cứu, 35 năm trước khi Google chào đời. Sách cũng rất thực tế và nội dung thì tràn đầy các “dụng cụ” hữu ích cũng như các ý tưởng cao siêu.
 
Steward và bộ sậu của ông xuất bản vài bộ “Thư Mục Toàn Cầu,” rồi khi ấn phẩm đã có vẻ thoái trào, họ cho in ấn bản cuối. Lúc ấy là vào khoảng giữa thập niên bảy mươi, khi tôi còn trẻ măng như các bạn bây giờ. Ở bìa sau ấn bản cuối này là một tấm hình chụp một con đường làng lúc sớm mai, cái kiểu đường làng làm bạn muốn nhảy dù đi chơi xa nếu bạn thuộc típ người mạo hiểm. Dưới hình là dòng chữ “Stay Hungry. Stay Foolish.” Đó là lời chúc giã từ của ban biên tập trước khi thôi xuất bản sách. Giữ lòng thèm khát, và một cái tâm khờ khạo. Tôi luôn tự chúc mình như vậy. Giờ đây, khi các bạn sắp tốt nghiệp để bắt đầu một đời sống mới, tôi cũng chúc bạn như vậy.
 
Hãy sống khát khao. Hãy sống dại khờ.
 
Cám ơn các bạn rất nhiều.

[Image: Stay-hungry-stay-young-stay-foolish-stay...1561508747]






~ 0 ~
Find all posts by this user
Like Post Quote this message in a reply
[-] The following 11 users Like TrucLam's post:
AnTMa (06-26-2019), HienTran (06-27-2019), HongNhung (06-27-2019), Hung Nguyen (06-26-2019), KimDung (06-27-2019), LongNguyen (06-25-2019), MaiHuong (06-25-2019), NgocLan (06-27-2019), NgocThuy (Yesterday), ThienToan (08-29-2019), YenThu (06-26-2019)
08-28-2019, 10:06 PM
Post: #22
RE: Ý Hay Lời Đẹp
Cái Thú Cuả Tôi


Trần Doãn Nho

Đọc văn, đọc thơ là cái thú tinh thần tao nhã. Xưa nay ai cũng nói thế.

Riêng tôi, nói các bạn đừng cười, trong những gì tôi đọc thì thích nhất vẫn là đọc tác phẩm của mình. Đó là một tật xấu, tôi biết. Biết mà không bỏ được.

Tôi không phải là người viết mới. Bài tôi viết đã được đăng nhiều lần trên nhiều báo khác nhau rồi. Thế mà hễ số báo nào biết là có bài mới viết sắp đăng, tôi vẫn cứ hồi hộp đợi. Ngày nào cũng hong hóng trông người đưa thư, lòng thấp thỏm không yên, y như đợi người tình thuở đầu đời mới biết yêu. Báo đến rồi, xé vội xé vàng xem thử bài mình đăng ở đâu. Có được đặt ở một vị trí tương đối có giá không, hay là bị đẩy đến một nơi không mấy người thèm để ý?

Đây rồi, tên mình đây rồi! Bài mình viết đây rồi! Bài nằm ở giữa, thôi thì cũng được. Thế là tôi bắt đầu lật tới lật lui tờ báo trong lúc mắt thì ngắm nghía cái tên mình, ngắm nghía cái tựa đề mình đặt. Sao mà nó dễ thương chi lạ! Nó lung linh, run rẩy, nhảy múa trước mắt mình như một vật trân quý. Ngắm chán, rồi bắt đầu đọc. Say sưa. Cảm động. Trời, bài mình viết đây sao? Hay tệ! Những con chữ và những chuỗi câu trôi đi, lướt qua trước mắt trên tờ giấy trắng tinh, mang theo con tim khối óc của mình. Càng đọc, càng say sưa, càng đắm mình trong cái thế giới nhỏ nhoi nhưng vĩ đại của mình. Càng đọc càng cảm thấy thương mình chi lạ. Thương cái tựa đề, thương cách dùng chữ. Thương câu này ngắn câu kia dài. Thương từ dấu chấm dấu phết cho đến cách xuống giòng. Thương cái ý, cái tình mình trải ra trên trang giấy. Rồi thương những lúc bỏ công ra ngồi cặm cụi viết, cặm cụi đánh máy, cặm cụi sửa. Đọc đến một đoạn nào ưng ý, gấp sách lại, nhắm mắt bồi hồi, tận hưởng cảm giác lâng lâng của một đứa trẻ con được thưởng quà.

Cuối bài, tần ngần ngắm lại tên tôi. Không chán. Vâng, tôi đó. Tôi sở hữu nó. Nó là tôi. Tôi là nó. Ngắm chán, tôi lật trở lên đầu bài, đọc tiếp. Lại bồi hồi, xao xuyến. Hết, đọc lại. Ngày hôm sau, dở ra, đọc tiếp. Đôi khi, suốt cả tuần, tôi chỉ còn một cái thú: đọc bài của mình với một nỗi tự hào bất tận. Tôi mê tôi đến thế thì thôi! Tôi mê văn mình đến nỗi chỉ thấy bài mình. Lật lui lật tới, vẫn chỉ thấy bài mình nằm chình ình ra đó. Dường như cả tờ báo, chỉ có một mình bài của tôi. Chỉ có bài tôi mới đáng đọc. Còn các bài khác thì thôi. Quên. Quên luôn. Có khi quên hẳn chẳng bao giờ đọc tới.

Bạn đừng vội cho rằng tôi thuộc cái “tip” nác-xi-xít (narcissism), chỉ biết yêu mình. Đúng ra, có phải tôi yêu tôi đâu! Tôi chỉ yêu văn tôi thôi. Nghĩa là yêu cái sản phẩm mình làm ra. Yêu những hình ảnh, ý tưởng mình gầy dựng nên bằng con chữ. Yêu chính nỗ lực của mình. Nghĩa là yêu tình cảm của tôi. Nghĩa là yêu cuộc đời tôi. Nghĩa là yêu những nhân vật tôi bịa ra. Nghĩa là yêu những người tôi từng biết, từng gặp, từng ghét, từng thương. Yêu những ngõ ngách tâm hồn. Yêu những khuất tất không tỏ. Yêu những bất hạnh. Yêu những đớn đau. Yêu những xúc cảm.

Bạn đừng vội trách. Hãy tưởng tượng bạn có một đứa con mới sinh, kết quả của một mối tình mặn nồng. Bạn cư xử với nó như thế nào? Chắc chắn là bạn sẵn sàng hy sinh tất cả cho nó, phải không nào? Bạn bồng ẵm, hôn hít, rờ rịt, ngắm nghía suốt ngày suốt đêm, phải không nào? Bạn thấy cái gì của nó cũng đẹp, từ con mắt, lỗ tai, đầu tóc cho tới ngón tay ngón chân, phải không nào? Từ câu nói bập bẹ cho đến những bước đi chập chững, phải không nào? Ai chê con bạn xấu, bạn giận. Ai khen con bạn đẹp, bạn mừng. Nó thích gì bạn cũng cho. Nó đòi gì bạn cũng chìu. Khi nó đau, bạn đau theo. Khi nó khóc, bạn hốt hoảng. Con người hàng xóm có đẹp đến đâu, bạn nào có cảm giác. Làm sao mà bằng con bạn được, phải không? Sao vậy? Câu trả lời thật đơn giản: đó là con tôi.

Cũng vậy, tác phẩm của tôi, chính là con tôi. Mỗi một tác phẩm là một đứa con, vừa tinh thần, vừa vật chất. Nó là kết quả của một sự cọ xát giữa tôi và cuộc đời. Là một hôn phối. Một vật vã. Một tìm kiếm. Một trăn trở. Nó cũng phải trải qua những tháng ngày thai nghén. Những đau đáu khai sinh. Khi ra đời, nó bắt đầu va chạm với thế giới và chịu đựng đủ thứ phản ứng: chê, khen, dè bỉu, thậm chí bị chưởi rủa. Như đứa con, nghe ai khen thì vui. Nghe ai chê thì buồn, thì giận. Được khen, đôi khi sung sướng đến quên ăn bỏ ngủ. Bị chê, chán nản đến độ đau khổ không thua gì tình phụ. Bạn không tin tôi sao? Cứ thử ngồi trước mặt tôi mà chê tác phẩm của tôi đi! Bạn tưởng tôi lịch sự à? Bạn tưởng tôi rộng lượng à? Không đâu, bạn. Bạn có thể nợ tôi dăm ba trăm, quên không trả. Bạn có thể chê tôi không đẹp trai. Bạn có thể than phiền tôi đủ thứ này nọ. Nhưng coi chừng, đừng có mà chê văn tôi! Văn tôi là nhất.

Trên kia, tôi có nói không phải tôi yêu tôi mà là yêu văn tôi. Y như thể văn tôi khác tôi. Đúng ra, chỉ là một cách nói. Văn tôi là cái gì vậy? Chả là tôi hay sao? Nó là của tôi. Thuộc về tôi. Một phần tôi. Là óc não tôi. Là da thịt tôi. Tóm lại, tác phẩm là một thành phần của bản thân tôi. Tôi xin nói rõ như thế này: một thành phần của tôi thì có nghĩa là tôi.

Có khi nào bạn tự hỏi: tôi là gì? Riêng tôi, tôi nhiều lần tự vấn mình bằng một câu hỏi ngây ngô như thế. Khi bạn nhìn tôi, bạn sẽ chỉ thấy tôi là một thân xác hay một vật thể di động: một sinh vật. Như con mèo, con ngựa, con chim. Không chỉ là như thế. Tôi là một hiện hữu, bạn ạ. Một hiện sinh, bạn ạ. Bản thân tôi, ngoài cái thể xác này, tôi còn có thể nới rộng tôi ra đến vô cùng. Trên thì tràn tới tận thiên đàng. Và dưới không chừng chạm đến địa ngục. Bởi tôi có thể nói: vợ tôi, con tôi, nhà tôi, bạn tôi, nước tôi, phe tôi, đảng tôi, thành phố tôi, thế giới tôi và …văn tôi. Nói vợ tôi nghĩa là vợ của tôi/ bạn tôi = bạn của tôi/nước tôi = nước của tôi/ đảng tôi = đảng của tôi/ thế giới tôi = thế giới của tôi. Bạn lưu ý nhé: của! Cái chữ đơn giản gồm chỉ có ba chữ cái ấy quan trọng lắm đó nhe. Không chừng chỉ vì giành nhau chữ đó mà thế giới sinh ra chiến tranh triền miên không dứt, chứ không phải chuyện đùa đâu.

Thậm chí ngay cả khi một người nào đó chết đi, chỉ có thân xác ông/bà/hắn ta biến mất, chứ những cái của ông/bà/hắn ta vẫn còn tồn tại. Có những cái chết khiến cho “cái tôi” của họ lớn hơn thành phần bản thân của họ nhiều. Những người anh hùng hay vĩ nhân chẳng hạn. Rõ ràng là họ mang bản thân vượt xa thân xác họ, thân phận họ và đất nước họ rất nhiều. Người ta chả mệnh danh họ là những người “đi vào lịch sử” đó hay sao!

Tôi tầm thường, nhỏ nhoi, yếu đuối, không thể và không biết làm anh hùng nên chẳng dám so sánh với ai. Tôi chỉ tìm cách nới rộng tôi ra một chút bằng cách: viết. Vậy, vì văn tôi là… tôi, thì nếu tôi chỉ yêu văn tôi, có gì bạn phải ngạc nhiên?

***

Nhưng, những giờ phút ngất ngây đó không kéo dài mãi. Một hôm, tôi đau đớn nhận ra một điều khác thường: những gì mình viết ra không có gì hay. Tôi bàng hoàng tự hỏi: văn của tôi mà như thế đó sao?

Tôi không nói ngoa đâu! Thường thì một tác phẩm ra đời, có người khen hay, có người chê dở, tùy theo quan điểm văn chương hay trình độ hay cảm quan riêng, là sự thường. Riêng tôi, sự thể có khác. Trước đây, tôi thích nó vì nó là của tôi. Bây giờ, đột nhiên tôi khám phá ra cái của tôi đó dường như có nhiều điều trục trặc. Thế mới kỳ! Đọc đi đọc lại, tôi mất hết cảm giác hưng phấn của những ngày đầu khi bài viết mới được hoàn tất. Thoạt tiên, cái “không hay” chỉ là một ý chung chung. Dần dần, tôi tìm ra nhiều điều không hay khác. Câu chuyện, ý tưởng, hình ảnh lủng ca lủng củng, chẳng có một chút gì hấp dẫn. Câu kéo rời rạc, chỗ thì dài dòng, chỗ lại thiếu hụt, nhiều câu trùng ý và sai cả văn phạm. Lạ thật! Tôi ngờ rằng một ai đó đã viết chứ không phải mình. Tự hỏi: sao mà mình, lúc đó, lại có thể viết như thế này nhỉ?

Bởi vậy, hễ đọc lại là muốn sửa: sửa câu, sửa chữ, sửa ý. Thậm chí muốn sửa hết cả tác phẩm của mình. Tôi cảm thấy dị ứng với những gì mình đã viết. Có khi nào bạn đọc lại những lá thư tình bạn viết cho người yêu mà mối tình đã đổ vỡ? Đấy, bạn sẽ thấy những lời lẽ trìu mến, nồng nàn mà bạn đã từng say sưa viết ngày nào, lúc này bỗng trở thành vô duyên lạ lùng!

Chưa hết. Càng đọc những bài viết xa hơn trong quá khứ, tôi lại càng thấy chúng lạc loài hơn. Hơi văn, ý tứ, hình ảnh… cũ càng, chuệch choạc. Tôi cảm thấy xa lạ với chính chữ nghĩa của mình. Y như một ngày nào đó, bạn khám phá ra rằng, đứa con mà bạn đã từng yêu quý như vàng như ngọc bây giờ khác hẳn. Nó không đẹp như người khác, không giỏi giang như người khác, không mềm mỏng như người khác… Nó độc lập. Nó có phận riêng của nó, chừng như bạn không thể nào can thiệp được. Nó không còn là của bạn nữa.

Những gì tôi viết cũng thế, đã có phận riêng của nó rồi. Lúc đầu, tôi vẫn tưởng tôi có quyền làm gì nó thì làm. Nghĩa là sửa, là xóa, là viết lại. Không đâu. Nó đã thành hình. Đã chào đời. Nó là của tôi nhưng không phải của tôi. Vậy tôi có quyền gì thay đổi số phận của nó chứ!?

Thôi thì để cho nó bình yên trôi vào quá khứ. Và tự nguyện sẽ viết một cái gì hay hơn. Tôi không có tính hiếu đại, muốn sáng tác ra một cái gì để đời, vĩnh viễn có giá trị. Hơn nữa, tôi vốn không tin tính “vĩnh viễn” của bất cứ cái gì trên đời này, nói gì đến văn chương là thứ mà bản chất là vô thường! Nhưng tôi muốn mình phải viết hay như người khác, như những ai mình đã từng tâm phục. Tôi muốn viết một tác phẩm lớn. Lớn, vâng. Tôi muốn trở thành văn hào, thi hào hay một nhà phê bình được mọi người ngưỡng mộ. Vâng, muốn lắm.

Nhưng làm sao bây giờ?

Để thành một nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, nhà phê bình… thì không có gì khó. Cứ viết truyện thì thành nhà văn, cứ làm thơ thì thành nhà thơ, cứ viết biên khảo thì thành nhà phê bình. Dễ ợt, phải không bạn? Khổ nỗi, không có sách nào chỉ cho mình cách để trở thành văn hào hay thi hào cả. Mà dường như không ai trong số những người đã được phong tặng danh xưng đó nghĩ rằng mình viết để trở thành văn hay thi hào. Danh xưng là cái đến sau, chứ tôi độ chừng rằng trong khi viết thì có lẽ họ cũng làm một việc như bạn, như tôi: cắm cúi viết. Mà văn, thi hào thì để làm gì nhỉ?

Thành thử, tất cả điều tôi muốn bây giờ giản dị hơn nhiều: cố gắng viết hay hơn chính mình. Tôi muốn hơn chính tôi, bạn ạ. Muốn vượt qua tôi. Muốn thách đố với khả năng tôi. Muốn trở thành đối thủ của tôi. Hay ít nhất cũng tìm cách khác tôi. Tóm lại, cố gắng đừng lập lại chính mình. Chính vì thế mà tôi thích viết, viết hoài.

Vậy bạn đừng ngạc nhiên, tại sao đến bây giờ, tôi vẫn còn viết. Cứ viết. Tôi muốn duy trì cái thú của tôi: thưởng thức bài viết của mình khi nó còn tinh khôi, chưa cọ xát với đời. Dẫu biết rằng những gì tôi viết hôm nay, sẽ là điều tôi không muốn đọc vào một lúc nào đó.
Sau này.

(Trích “Từ Ảo đến Thực”)
Find all posts by this user
Like Post Quote this message in a reply
[-] The following 5 users Like TrucLam's post:
HienTran (08-29-2019), HongNhung (08-29-2019), KimVan (09-01-2019), MaiHuong (08-28-2019), NgocThuy (Yesterday)
08-30-2019, 11:31 AM
Post: #23
RE: Ý Hay Lời Đẹp - Tiếng Chuông Chùa
Tiếng Chuông Chùa


Huy Phương

Nhiều đêm thức giấc trong sự vắng lặng của thành phố nhỏ, lan man nhớ lại thời tuổi trẻ, bỗng dưng tôi thèm nghe một tiếng chuông chùa. Tiếng chuông đó tôi đã từng gặp trong những ngày tháng thơ ấu, tiếng chuông thanh thoát như gợi lên từ tĩnh lặng, đến đây từ hư vô, đem lại cho tâm hồn sự bình an, không phiền muộn. Một buổi chiều nào đó trên bờ sông Hương, thời niên thiếu, tôi đã nghe tiếng chuông từ chùa Linh Mụ vọng về theo dòng sông, qua những bờ lau lách, qua những ruộng mía xanh rì vẳng đến ngôi trường học bên bờ sông Hương. Ngày tôi trở về thăm lại quê hương đổ nát sau những năm dài lưu lạc khổ đau, mỗi đêm gần sáng, trong ngôi từ đường, tôi thường thức giấc bởi những hồi chuông từ ngôi chùa nhỏ bên kia sông vọng lại. Tôi nằm nghe tiếng chuông dóng dả khoan thai như một lời an ủi, tỉ tê. Tiếng chuông như ru tôi rũ sạch mọi muộn phiền.

Tôi đã xa những tiếng chuông như thế trong nhiều năm, bỏ lại thành phố nhỏ, con sông mượt mà và cả tuổi thơ không bao giờ có thể tìm lại. Danh lợi, chiến tranh, và hận thù đã xô đẩy loài người đến với âm thanh của những tiếng bom đạn, tiếng kẻng tù, tiếng rú của những nhà máy nhả khói mịt mù và thế giới văn minh với những dòng xe rộn ràng, vội vã.

Ngày xưa chúng ta đã từng nghe tiếng chuông trong Đường thi của Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Thường Kiến. Chúng ta ai mà không biết đến cái nửa đêm trăng tàn, sương xuống, quạ kêu và tiếng chuông chùa Hàn San vọng lại giữa đêm của Trương Kế. Và gần đây Quách Tấn với: “Những đêm buồn tỉnh giấc, chùa cũ tiếng chuông ngân.” Tiếng chuông luôn luôn là của phần hồn, của siêu thoát, của an nhiên tự tại khác hẳn với những gì trần tục, đời thường. Vậy mà tiếng chuông chùa đã không còn nghe nữa!
Câu chuyện sau đây đã giải thích vì sao tiếng chuông chùa đã ngưng tiếng. Đó là câu chuyện của Thiền sư Ấn Độ Ram Gopal Muzumdar:

“Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, chớ hề xao lãng cũng, giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh.

Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân, đêm tới khi ngủ, máng trên vách, thường bị chuột ra cắn rách, phải xin vải thừa bá tánh thay đổi nhiều lần.
Thấy vậy, thương người tu hành, người làng đến biếu thầy một con mèo dùng để đuổi bầy chuột. Từ khi có mèo, chuột hết cắn phá khố của thầy nhưng thầy lại phải lo thức ăn thêm cho mèo. Một phú nông trong làng có lòng biếu thầy một con bò để thầy vắt sữa nuôi mèo. Có bò rồi, thầy lại phải lo đi cắt cỏ nuôi bò. Dân làng lại có lòng tốt biếu thầy một đám ruộng màu mỡ để thầy canh tác. Chẳng mấy lúc, được mùa, lại bò mèo đều sinh sản, thầy phải nhờ đến dân làng phụ lực cày cấy. Không bao lâu, chốn thanh tịnh xưa kia trở thành một nông trại rộng lớn giàu có.

Thầy lúc ấy tiền bạc không thiếu, mới có ý định phá bỏ chùa nghèo cũ, xây chùa mới, bá tính mới nghe đã dốc lòng, ùn ùn góp công góp của cúng dường để lấy phước. Chẳng mấy chốc thầy đã xây dựng một ngôi chùa mới nguy nga tráng lệ, tượng lớn, cửa cao, trong ngoài đều sơn son thếp vàng như chốn cung đình của Vua Chúa. Quá giàu, thêm đa đoan công việc, tính toán kinh doanh làm sao được nhiều tiền hơn, đêm đêm thầy bù đầu với những con số thu chi, không còn dốc tâm cũng như có thời gian để tu học. Ngày nay thầy đã trở thành triệu phú, đại tư bản, chỉ có bộ áo cà sa bên ngoài cho biết thầy là một tu sĩ.

Một ngày kia sư phụ trở về, mới đến rẻo đất cũ đã thất kinh rụng rời, hồn phi lạc phách, không thấy túp lều cỏ đơn sơ ngày xưa mình ra đi, mà trước mặt là một ngôi đền tráng lệ, khách thập phương lui tới chiêm bái, ngựa xe dầy đặc, ồn ào không kém gì chốn phồn hoa trần tục. Thấy sư phụ chống gậy, tay nải trở về, thầy hân hoan ra đón, cặn kẽ trình bày lại những chuyện đổi thay tuần tự theo thời gian, hy vọng được sư phụ nhiệt liệt khen ngợi, xiển dương công đức của thầy.

Sư phụ nín lặng hồi lâu, cuối cùng thở dài mà nói rằng:

- Từ một cái khố rách chuột cắn, con đã lầm đường đi một bước quá xa đến cái lâu đài này, ngược với những điều gì ta đã dạy con tu học nhằm để giải thoát và giúp người giải thoát. Chùa lớn nguy nga thì phải lo tu bổ coi sóc, tín đồ đông thì ồn ào, hỗn tạp, được phước thì thời giờ đâu nữa mà tu học.

Nhân vật trong chuyện chính là thiền sư, kết luận: "Người tu sĩ đó là tôi, tôi đã từ bỏ hết để theo thầy lên non học đạo, và nay tôi áp dụng nó (đoạn tuyệt tài sản) để chữa mọi bệnh nan y trong tu viện này…"

Bây giờ người ta không còn xây chùa trên núi, xây chùa trên núi thì thanh tịnh, dễ tu tập, nhưng không nhiều thiện nam tín nữ và khách vãng lai. Ông Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mỉa mai: “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”, nhưng bây giờ đi tìm nơi vắng vẻ quả là dại, thà cứ theo chân “người khôn người tới chốn lao xao”. Khi chùa nằm giữ phố thị, chợ búa rộn ràng thì tiếng chuông sẽ bị ngăn giữ giữa phồn hoa tục lụy, có khi chùa lại không được đánh chuông. Khi thầy bận rộn đa đoan với năm bảy ngôi chùa, với sổ sách chi thu, với suy tính, nợ nần vừa ân nghĩa, thương ghét thường tình thì khó nói chuyện tu học. Ngày xưa khi đức Phật tìm ra chánh pháp, nếu muốn, vua Tịnh Phạn sẽ cung cấp cho Người xa mã, tiền hô, hậu ủng, và xây dựng hằng chục ngôi chùa nguy nga tráng lệ, sơn son thiếp vàng cho Người hành đạo, đâu có phải lê đôi dép mòn qua hàng nghìn dặm đường gai góc, nắng cháy hay sương tuyết.

Tôi là người của thế kỷ trước đi lạc tới đây. Vì sao cứ nghĩ chùa phải là chùa Long Giáng của Hồn Bướm Mơ Tiên, chùa phải là chùa làng của Vang Bóng Một Thời, hay mơ màng đến cảnh chùa Hàn San, trong lời thơ không thấy rõ cảnh chùa, chỉ nghe tiếng chuông chùa vọng lại. Chúng ta đánh mất nhiều thứ, trong đó có cả một tiếng chuông chùa. Xin cho tôi tìm lại một chút tuổi thơ và cả tiếng chuông chùa ngày ấy. Tôi đã đi trên những đoạn cuối của con đường đời, vẫn muốn có những giây phút tần ngần đứng lại, nhìn về quá khứ tưởng như đã mờ nhạt, nhưng làm sao có được một vài giây phút như Hồ Dzếnh để: “Chân đi đếm tiếng chuông chùa. Tôi ngờ năm tháng ngày xưa lại về.”

Find all posts by this user
Like Post Quote this message in a reply
[-] The following 9 users Like TrucLam's post:
AnTMa (08-30-2019), HienTran (09-01-2019), HongNhung (09-04-2019), KimDung (09-02-2019), KimVan (09-01-2019), MaiHuong (08-31-2019), NgocThuy (Yesterday), ThienToan (08-30-2019), TuNguyen (09-02-2019)
08-31-2019, 07:06 PM
Post: #24
RE: Ý Hay Lời Đẹp
Bên Nội


Trần Mộng Tú ♦ 13.10.2015

Ngày các con còn nhỏ, mỗi năm đến dịp hè là cả gia đình lên xe, lái từ Seattle về nội ở Montana. Thời gian lái xe là mười tiếng, nhưng chúng tôi vừa đi, vừa nghỉ dọc đường ăn uống. Khởi hành chín giờ sáng tới nhà ông bà nội là mười giờ tối, tổng cộng mười ba tiếng. Ngày tháng trôi qua, ông bà nội theo nhau qua đời, các con khôn lớn, lập gia đình, không còn ở với cha mẹ nữa, chúng tôi không còn về bên nội mỗi năm.

Vài ba năm tôi mới về thăm bà chị chồng và mồ mả các cụ bên chồng Nhưng gần như mỗi năm, chồng tôi hay lấy một cuối tuần dài ba, bốn ngày, về thăm người chị độc thân của mình. Đã ba năm rồi tôi không về Helena, Montana thăm chị và mồ mả các cụ, trong lòng cũng hơi áy náy phận dâu con, nên năm nay anh vừa rủ là tôi sốt sắng nhận lời. Chúng tôi không có nhiều ngày nên dùng máy bay chứ không lái xe.

Chương trình của chúng tôi tùy vào thời khóa biểu làm việc của chị nên khi đến Helena, chơi với chị một ngày xong chúng tôi thuê xe đi Yellowstone hai ngày, rồi quay lại Helena chơi với chị thêm hai ngày nữa trước khi bay về Seattle.

Con đường từ Helena đến Yellowstone rất ngoạn mục. Cuối tháng chín, trời bắt đầu vào thu, xe như đi giữa một bức tranh mà tôi nghĩ chỉ có thợ trời mới vẽ được như thế.

Trên vòm trời một màu xanh lam mênh mông với những cụm mây trắng chụm vào rồi lại tan ra trôi trôi vô định, bên dưới trời mây đó núi trùng trùng điệp điệp nối thành một vòng cung màu xanh xám, cho ta có cảm tưởng như con đường chui ra từ núi. Bên dưới núi là những cánh rừng cây bạt ngàn. Tháng này rừng cây không còn nguyên thủy một bức tranh vẽ rừng thông với những vòm màu xanh nữa, mà thỉnh thoảng trong bức tranh xanh ngọc đó hình như họa sĩ vừa lỡ tay đánh đổ một thùng sơn màu vàng diệp, rồi bỏ đi đâu, quên không sửa lại bức tranh. Màu vàng đổ tung tóe suốt con đường du khách đi qua. Đó là những bụi Bạch Dương (Poplar) được trồng lẫn với thông mà vào mùa khác nhìn từ xa không phân biệt được. Bây giờ Bạch Dương như các cô thiếu nữ, từ trong rừng bước ra khoe cái áo mới vừa được mùa thu nhuộm cho một mảng vàng lấp lánh trên vai. Bên dưới những cánh rừng đó là những cánh đồng cỏ alfalfa (một loại cỏ đóng thành bánh, dành riêng cho bò vào mùa đông.)vẫn xanh biếc mênh mông, có từng đàn bò đen đủng đỉnh ăn cỏ, thỉnh thoảng những con antelopes, một loại động vật hoang dã (Wild animal) đẹp như hươu, lông trắng, khoang nâu, dáng như con dê, chấm phá vẻ đẹp cho cánh đồng alfalfa . Chưa hết, ngoài bìa cùng của cánh đồng cỏ, sát với mặt đường xe chạy là những bụi sage màu bàng bạc pha tím, chạy dọc theo bánh xe lăn, nếu ta ngừng xe lại bứt một nắm lá vò trong tay, hương thơm của lá sage nồng nàn như mùi oải hương thấm vào các ngón tay cho đến lúc mặt trời lặn vẫn còn đằm hương.

[Image: Autumn-colors-in-Montana.jpg]
Autumn-colors-in-Montana

Cứ thế xe đi trong núi, núi trong cây và cây trong mùa thu, chúng tôi đi về phía Yellowstone. Từ thành phố Helena, qua Norris, chúng tôi dừng lại ở suối nước nóng lộ thiên đặt giữa một khu đất không lớn lắm nhưng sát bìa rừng, vào ngâm mình trong một cái hồ mà cứ 1 phút có 60 gallons nước ở suối thiên nhiên (hot sping) đưa vào. Trong nước thiên nhiên cung cấp: Calcium, silica và lithium, ngoài ra không có bất cứ một hóa chất nào cho thêm vào, vì sự luân lưu rộng rãi của nước suối như vậy không cần đến những chất sát trùng nhân tạo. Tại đây người ta bán rượu chát, thức ăn nhẹ nấu bằng rau trồng ngay trong mảnh đất cạnh suối nước nóng, những lá rau không có phân bón và thuốc trừ sâu. Thiên nhiên với con người là một trong không gian và triên mảnh đất hiền lành này.

Chúng tôi ghé Butte để thăm lại ngôi nhà của ông bà nội anh, nơi bố anh lớn lên, hiện được coi là một “Historical house”, trường Đại Học học nơi bố anh học, trường Trung Học của anh và Bệnh Viện St.James nơi anh ra đời. Đi qua mỗi nơi nghe chồng tôi nhắc đến từng mẩu chuyện nho nhỏ vui buồn thời niên thiếu, tôi thấy trái tim mình như có cánh cửa nhỏ, mở ra đón vào một chút nắng, chút gió, chút hương, vừa xa lạ vừa ấm áp thân quen.

Nơi đây, trong thời điểm này, tôi nhìn thấy những cây cột đèn thành phố có treo những lẵng hoa và bên dưới lẵng hoa là một tấm bảng nhỏ màu vàng có kẻ tên một quân nhân nào đó, tôi đọc: Lieutenant James T. Tuckman

Sargent Dick Boyds….Dấu chỉ thành phố đang chờ ngày trở về (nếu họ có trở về!) của những đứa con đang làm nghĩa vụ ở một chiến trường nào đó.

Nghe lòng mình rưng rưng. Cầu xin một sự trở về bình an cho họ.

Chúng tôi đi xem đài tưởng niệm 168 người thợ mỏ chết trong lúc đang làm việc vào năm 1917. Phần đông là những người đến từ các quốc gia Âu Châu tới (Cuối Đệ Nhất Thế Chiến, bên Âu Châu không có việc làm, người dân kéo nhau sang Mỹ làm đủ các nghề.)

Montana đã có một thời là nơi người ta đổ tới lao mình vào các mỏ đồng, mỏ vàng và lúc nào cũng thế: thợ mỏ là những người thiệt thòi nhất, vì họ chỉ là kẻ làm công cho những chủ nhân ông quyền thế. Những mỏ vàng, mỏ đồng là chính kế đến là những hỗn hợp kim loại và đá quý. Bạn sẽ không ngạc nhiên khi thấy những con đường ở Butte mang tên: Crystal, Copper, Granite, Silver, Gold, Cora Terra, Diamond, v.v..

Sau khi ngao du ở Yellowstone hai ngày, nhìn dấu tích của thiên nhiên ghi lại những kỳ bí, vẻ đẹp và vết tích của động đất để lại trên mặt đất, chúng tôi lại quay trở về Helena để tiếp tục đi thăm mộ cha mẹ, họ hàng bên nội. Thăm thành phố có ngôi nhà thờ Cathedral of St. Helena đẹp đến nao lòng. Người dân ở đây được biết ngôi giáo đường này được xây bởi tiền của những chủ nhân ông khai thác mỏ vàng, mỏ đồng tại tiểu bang.( Mỏ vàng ở Montana được khám phá lần đầu vào năm 1852)

Chúng tôi cũng muốn lái xe đi lòng vòng trong phố,ngắm nghía lại những ngôi nhà xây theo kiểu Victorian House (Thời đại hoàng kim của thành phố này vào năm 1908, Helena được coi là một trong những thành phố có nhiều triệu phú nhất thế giới.)

Chồng tôi sẽ đi gặp lại người bạn thời trung học của anh, một trong những người vẫn gắn bó ở hết đời với Montana. Chú ruột anh, chị anh cũng thế, không hề muốn sống ngoài Montana, không hề nghĩ mình cần đi du lịch ngoài thành phố của mình. Đối với họ, chẳng nơi nào đẹp bằng quê mình.

Bố anh cũng là một người trong số đó. Sau khi anh tốt nghiệpTrung Học, cụ cũng tìm đủ cách để anh phải ở lại học ở Đại Học quê nhà, nhưng anh đã bỏ đến tận Chicago và học ở đó (Loyola University of Chicago).

Sau khi chúng tôi kết hôn, ở California 12 năm, có năm hai cụ đã thử dọn đến ở gần chúng tôi. Hai cụ thuê một căn chung cư rất gần con, ở được một tháng hai cụ lại dọn về Montana. Bố chồng tôi nói: “Không ở được con ạ, thành phố nhiều xe cộ và nhiều tiếng động, lại không có hàng xóm.” Hai cụ lại quay về quê nhà sống cho đến cuối đời và gửi xương thịt trong đất đá của Montana.

Người ta đang chuyền tai nhau là tối rằm trung thu này sẽ có một mặt trăng ngoạn mục, đỏ như máu và sáng như lửa. Chúng tôi từ Yellowstone quay lại Helena để kịp đón “Mặt trăng nhuộm máu” cùng với bà chị.

Vì nếu lỡ vầng trăng này làm sao chúng tôi nối được tuổi mình, để chờ thêm 18 năm nữa.

Find all posts by this user
Like Post Quote this message in a reply
[-] The following 7 users Like TrucLam's post:
HienTran (09-01-2019), HongNhung (09-04-2019), KimVan (09-01-2019), MaiHuong (08-31-2019), NgocThuy (Yesterday), PhuongLe (08-31-2019), TuNguyen (09-02-2019)
Post Reply 


Forum Jump:


User(s) browsing this thread:
1 Guest(s)

Return to TopReturn to Content