Post Reply 
 
Thread Rating:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Câu hát tìm nhau
03-01-2019, 03:22 AM (This post was last modified: 03-01-2019 03:36 AM by KimDung.)
Post: #1
Câu hát tìm nhau
Câu hát tìm nhau


[Image: 48084_356770737761757_1627027407_n_副本.jpg]


Tôi gặp lão lần đầu trong quán thịt chó của bà Tư béo, nơi tôi đến bỏ rượu gạo hàng chiều sau giờ đi làm. Lão xuất hiện với bộ dạng một người lỡ đường, tay bị, tay mũ cối, gương mặt rỗ hoa lấm tấm bụi đường và mồ hôi. Tưởng lão là người ăn xin, bà Tư đuổi như đuổi tà:- Ði ra! Ðể người ta bán, đừng có hãm tài.- Thưa bà, tôi không xin. Tôi tận Hà Bắc vào đây tìm người quen. Bà cho tôi hỏi... bà có biết người này.Lão chìa ra mảnh giấy bọc ép nylon như thẻ căn cước, ghi dòng chữ: Hai Xuân, người Bắc Ninh, có chồng tên Tuất. Sau 1975 có người gặp sinh sống ở Ðà Nẵng.- Mơ hồ thế có trời biết! Không đường, không số nhà... Già rồi lẩm cẩm. Con cháu sáng suốt không sai đi tìm. Thôi đi chỗ khác. Ðây cũng là dân ngụ cư thôi! Không biết!Bà chủ quay ngoắt, dềnh ngang bộ mông núng nính đi vào bếp. Lão lẩm bẩm:- Cả tuần nay... hỏi ai cũng trả lời chừng đó!Thương hại lão, tôi gợi chuyện:- Thế bà Xuân người như thế nào?- Cô ấy người dong dỏng. Trắng tươi. Hát hay. Xinh đẹp.



Bàn thịt chó bên cạnh lập tức nhao lên:- Ồ! Cháu lão hả? Bao nhiêu tuổi? Ðể tụi này tìm giúp coi có “xơ múi” chi không?- Cô ấy thua tui một tuổi.Cái quán ven đường bỗng òa vỡ tiếng cười. Tiếng đập bàn, la ó, huýt gió, hô hố… náo loạn.- Thế thì “cố” chứ “cô” gì! Làm tụi này tưởng bở bố ạ! Cỡ ấy ra nghĩa địa tìm dễ hơn.- Mà cố Xuân là gì của lão? – Gã để râu xồm xoàm vừa nhai vừa hỏi.- Xưa cô ấy là bạn hát quan họ của tôi.- Lão vượt đường dài ở tuổi này để tìm một bạn hát xưa già khú đế à?- Vâng.- Trời ơi... là trời... ở mô rớt xuống ông ngố đa tình như ri hở trời! – Gã giọng Huế cùng bàn cúi gập người rên giữa một tràng cười. Còn lão điềm tĩnh, kiên định hỏi tiếp:- Mua bản đồ thành phố ở đâu mấy chú?- Thôi lão ơi, có khát tợp ít ngụm rồi mua vé về nhà nằm nghỉ. Kiếp sau yêu cho dài ngày rộng tháng.Rồi để thưởng câu nói mà gã tự cho là ý vị ấy, gã để râu ngửa mặt lên trời, ném điệu nghệ một miếng dồi chó vào miệng, nhai nghiến ngấu, tợp một ngụm rượu, khà một tiếng khoái trá.- Ngoài tôi, chỉ có món xào và rựa mận là để bát đĩa. Còn các món khác đựng trong lá tất... Ăn bốc mới đúng điệu. – Ðột ngột lão góp ý.- Coi bộ cũng là dân nghiện mộc tồn.- Phải thật thoải mái, không cần giữ ý tứ. Bữa ăn phải đượm mùi hoang sơ của những người lục lâm tứ chiếng.- Mở đầu được đấy! Mần ly rượu nói tiếp đi!Câu chuyện xoay quanh chó: cách chọn chó, nấu chó, ăn chó… Lão sành đến nỗi những cái mặt đỏ gay, những cái miệng bóng nhẫy đều quay về phía lão hóng chuyện. Cái mông núng nính của bà Tư cũng yên vị trên chiếc ghế dựa hồi nào. Bà chủ đang há hốc miệng nghe lão bày cách chế biến từ bảy món cầy cơ bản thành mười món hoặc hơn nữa. Lạ là lão sành món “hương nhục” đến thế lại từ chối động đũa vào đĩa chó bà Tư đích thân bưng đến đặt trước mặt lão để mong thụ giáo. Lão giải thích hễ lão cầm đũa là phải ăn no mới thôi. Cái thứ này hễ ăn là say, ăn mãi... ăn thì phải đúng điệu với bạn tri ân để say còn khóc cười cho hả...- Khách của tui đủ giới, ở khắp thành phố này – bà chủ lên tiếng – Dò tìm một cố Xuân nói giọng Bắc, vấn khăn, cao dong dỏng, biết hát quan họ không phải là khó. Tui sẽ nhờ anh em... sẽ để lão ăn thịt chó thỏa thuê không lấy tiền... với điều kiện lão giúp tôi tiếp khí sắc cho quán. Dãy này bốn quán... phải có ngón nghề đặc biệt mới kéo khách về mình...Quán thịt cầy của bà Tư béo từ độ có lão bỗng đông khách hẳn. Thịt bao giờ cũng lớn bùi, bé mềm, cả tơ cả cứng cho đủ vị cuộc đời. Lá sen, lá dong riềng, lá chuối được thay đĩa men. Quán có đến mười hai món “hương nhục”, thơm điếc mũi. Buổi tối quán tắt đèn điện thắp đèn cầy ăn thịt cầy... âm âm u u thế mà gọi mời đáo để. Những câu chuyện về đời, về chó của lão dưới ánh nến bao giờ cũng khiến khách ăn cảm thấy bữa rượu thịt đậm đà. Bữa nào lão không tới, họ lại ăn uể oải đòi lão có mặt. Bọn họ gọi lão là “lão Tầm Xuân”. Cái quán ven đường rôm rả hẳn lên khi ông lão mặt rỗ hoa, ăn mặc nhếch nhác bước vào. Họ hát ong ỏng đón lão: “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay. Già rồi tiếc vẫn chưa nguôi. Xắn quần anh lội suối, khòm lưng anh vượt đèo...”. Có hôm, men rượu không giải được nỗi sầu vô vị, họ lại đem lão ra giải buồn. Họ đổi những tin “dỏm” về cố Xuân bằng những câu chuyện của lão hoặc một cú tẩm quất sướng ê người. Nếu quán vắng khách, họ nằm ườn ngay trên nền quán, ưỡn tấm thân trẻ trung rã rời cho lão tẩm. Xương bật giòn tan, còn bọn họ lè lưỡi: “Hồi trẻ, lão phải vật trâu!”- Hồi trẻ, tôi giật đến hai giải thi vật – Hứng chí lão khoe.- Thế mà không vật nổi cô Xuân dong dỏng, trắng tươi, hát hay xinh đẹp.Cả bọn cười ồ còn lão bỗng tiu nghỉu. Lão ngừng đấm hỏi:- Lần này “dỏm” không đó?- Dỏm 50%. 50% có thể thật. Ðứa nào nói dối 100% hộc bia ra ngay.Chân dung cố Xuân thay đổ xoành xoạch. Khi thì cố Xuân ở tận bên làng biển An Hải, mù vì khóc lão. Khi thì ở trên Hòa Khánh, điếc đặc. Khi thì ở tận Hòa Cường, suốt ngày ho sù sụ...Có lúc bọn trẻ kéo vào quán một bà già nghễnh ngãng, ré lên: “Lão Tầm Xuân ơi, cố Xuân đây nè!”. Bà già chửi te tua còn bọn chúng cười hô hố: Chỉ có lão không nói một lời. Tôi có cảm tưởng có cái gì nặng hơn chiếc lá khô vỡ tan tành trong lòng lão. Ôi lão Tầm Xuân! Lão tìm trong cuộc đời nước chảy mây trôi như một hình bóng của ký ức thì tìm sao đặng? Những cuộc “gặp” ấy để lại trong lòng lão dư vị cay đắng. Lão ngồi uống rượu suông, mắt mờ đục như có khói và lão hát. Dĩ nhiên không phải để cho chúng tôi nghe! Lão hát hay lắm. Hay đến nỗi có lần tôi phải chở vợ đến nghe. Nàng đứng ở ngưỡng cửa nghe lão hát bài ruột: “Khi tương phùng, khi tương ngộ. Xuôi lên bộ, văng vẳng tơ tình. Chiêm bao lần chẵn năm canh. Bao lần anh ngồi tựa trăng thanh. Thương nhớ sâu oanh. Lẻ loi chim nhạn. Bạn tình ơi! Em biết đến bao giờ gặp mặt sánh đôi. Suốt năm họa là. Duyên bén ngãn, văng vẳng tơ tình. Trước không phải, sau đền duyên ba sinh”.


[Image: 255568_104978549652954_1887633057_n.jpg]


Khó tưởng tượng một giọng hát say đắm ngọt ngào dường kia lại thoát ra từ một lồng ngực hom hem phô những giẻ sườn. Vợ tôi bảo không phải lão hát mà tình yêu lão hát. Nàng có đôi chút học vấn để nhận xét: đằng sau vẻ ngù ngờ, xấu xí, già nua kia là một trái tim thực có một cô Xuân dong dỏng, trắng tươi, hát hay, xinh đẹp trên đời. Cô Xuân ấy không bao giờ già, không bao giờ xấu, không bao giờ chết trong lão!Sau lần nghe lão hát và những câu chuyện tôi kể về lão, vợ tôi bỗng trở nên “ái mộ” lão. Nàng bảo tôi chở lão đến nhà chơi rồi lão trở thành khách quen thuộc của cả nhà. Họ cũng bị lão “mê hoặc” như cả quán cầy tơ của bà béo. Lũ con tôi quý lão vô cùng. Lão bày chúng hát nghêu ngao những bài quan họ. “Sớm đi chơi hội, tối về quay tơ. Dải yếm phất phơ. Miếng trầu, mồi mốc. Miếng ăn, miếng buộc. Miếng gối đầu giường. Muốn tìm người thương. Tìm đâu cho thấy?”... Lão cho chúng những đồ chơi thật ngộ – những con vật bằng lá dừa biết ngúc ngắc, con gà trống bằng đất sét lòe loẹt xanh đỏ tím vàng kẹp chiếc kèn lá có thể cất tiếng gáy... Bếp nhà ấm áp khi có lão. Lão nếm rượu chính xác như đo, hàn giúp cái xoong, cái nồi rất khéo. Lão mơ màng kể cho chúng tôi nghe những ngày hội Lim, những liền anh áo the khăn xếp, liền chị thắt lưng hoa lý, yếm đào con nhạn, mắt lá răm lúng liếng hát thâu đêm. Tôi ngồi nghe lão tả những làn điệu quan họ đắm say miên man dìu dặt và yêu cầu lão hát nhưng thường lão lắc đầu. Lão bảo hát quan họ phải có đôi, có bạn, có chỗ. Ký ức lão còn giữ nguyên vẹn những ngày hội quê lão: Hội làng, Hội Xuân, Hội mùa... Trai thi mạnh, gái thi mềm. Thi hoa, thi vật, kéo co, hát chèo, nấu cơm, đánh đu, cờ người...- Lão gặp cố Xuân ở những ngày hội đó à?- Vâng. Ðó cũng là ngày hội quan họ, cả vùng như ngấm men say, phát cuồng vì hội lễ. Năm ấy anh cu Rỗ là tôi tròn 18 tuổi, được cử vào bọn quan họ làng để luyện giọng thi hát với bọn quan họ làng bên kia sông. Nhà tôi ba đời hát quan họ. Tôi luyện trên dưới 200 giọng, thế mà khi hát đôi với cô ấy tôi run. Tâm hồn tôi lơ lửng không đặt hết vào lời. Cô ấy là tiên quan họ. Ngày xưa cô Tấm cũng đẹp thế là cùng! Giọng hát sóng sánh. Mắt đen lóng lánh. Môi cắn chỉ đỏ thắm. Cần cổ như cuống hoa huệ... Tôi say, say lời hát, say cô ấy, quên cả ngón ruột phải tung ra vào phút chót để thắng dứt điểm. Cuộc thi kéo dài đến ba ngày. Tiếng trống dứt mới giật mình ngơ ngẩn. Dĩ nhiên tôi thua...- Ða tình thế sao không lấy?- Lệ quan họ những đôi trai gái đã kết bạn quan họ không lấy nhau. Tình yêu có nảy sinh thì cũng gửi thương gửi nhớ qua lời hát. Kết nghĩa quan họ như kết nghĩa anh em, được cha mẹ hai bên, dân hai làng chấp nhận. Tình bạn ấy chân thành, thủy chung, thắm thiết không chỉ đời mình mà có khi còn đến đời sau. Làng tôi có nhiều cặp quan họ khi đầu bạc răng long, tình yêu trong câu hát xưa vẫn không tàn. Có dịp gặp nhau trên chiếu quan họ, họ lại sống lại thời xuân sắc. Anh em kết nghĩa quan họ gặp nhau “xuân thu nhị kỳ”, đến thăm nhau, ăn uống, vui chơi, ca hát với nhau. Mỗi bên có chuyện vui buồn đều tổ chức đi lại thăm viếng. Tôi nhận ra một điều: người ta có thể cho nhau niềm hạnh phúc to lớn biết dường nào và chẳng lần nào giống lần nào... Rồi cô ấy cũng phải đi lấy chồng. Bọn quan họ chúng tôi đến chia vui. Tôi đau lòng hát miên man...Mắt lão bỗng mơ màng xa vắng. Rồi một giọng hát trẻ trung đằm thắm da diết cất lên: “Ăn quả nhãn lồng. Ước sao người ấy tôi bồng trên tay...”. Không phải lão Tầm Xuân tóc bạc da mồi hát mà anh cu Rỗ tóc đen như mun, da mầu đồng, có giọng hát Trương Chi hát! Cô ấy hiểu lòng tôi, chú ạ! – Lão lại ngưng hát, kể: Tôi hát bài “Khi tương phùng, khi tương ngộ” ngang nửa bài thì cô ấy xen ngang, hát tiếp: “Bạn tình ơi! Em biết đến bao giờ họp mặt sánh đôi... Trước không phải, sau đền duyên ba sinh”. Chúng tôi cắt câu quan họ làm đôi, mỗi đứa giữ một nửa. Hẹn kiếp sau chắp lại.Sau đó là chiến tranh... nạn đói... Câu quan họ tan tác trăm phương. Tôi vào Vệ quốc quân, tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, khi hòa bình lập lại, tôi về làng thì nghe cô ấy đã theo chồng... nghe nói vào Nam.Rồi tuổi già đến. Già buồn lắm chú ạ! Cô đơn và bất lực. Chết không đáng sợ bằng tuổi già. Sống đến đó, người ta mới nếm tận cùng chén đắng cay của đời. Tôi sợ hình ảnh ông hàng xóm ngày nắng được bế cả người lẫn chăn ra hong nắng. Nắng rực rỡ đọng thành từng vũng quanh ông ấy, còn ông ấy nhăn nhúm trong cái chăn rách... Tôi có cảm tưởng ông được đem phơi cho chết vi trùng. Có bà, được mua cho một cỗ hậu sự thật tốt. Lâu không chết, áo quan bị mọt đục. Ngày nắng con cháu đem ra phơi, trở qua lật lại rửa ráy càu nhàu... Luật đời chú ạ! Già thì lụi tàn, phải chết. Sống lâu thành nợ của mọi người ngay con cái cũng chán... Một lần tôi ốm, trận ấy ốm thương hàn, thập tử nhất sinh. Trong những cơn mê, tôi cứ nghe một giọng hát lảnh lót níu tôi lại trần thế: “Người về bỏ bạn sao đành. Người về em vẫn đinh ninh tấm lòng...”. Giọng cô ấy! Chỉ có cô ấy mới có cái giọng la đà sát ngọn cỏ, cao vút chạm mây xanh, thầm thì luồn lách trong da trong thịt. Tôi tỉnh lại đang mơ màng thì nghe giọng dâu con thở than gần hết ngày tốt mà cha chưa chịu đi. Tôi mở mắt, chúng nó lại ríu rít hỏi han, làm ra vẻ vui mừng... Sau lần ốm ấy, tôi nghĩ đến chuyện đi tìm cô ấy. Chính cô ấy níu tôi lại cuộc đời này. Tôi phải đi tìm nửa câu quan họ cắt đôi. Trẻ không lấy nhau được, già ở bên nhau, hát với nhau cho đỡ côi cút. Trước sau vẫn là bạn có gì sai trái đâu?Lão im bặt. Ðôi mắt già nua chìm trong cõi vắng. Thời gian với lão chỉ là lớp bụi mờ. Gió thổi, bụi bay, dĩ vãng lại hiện ra nguyên vẹn trước mắt lão. Ðêm ấy, lão hát miên man bên bếp lửa tàn. Một mình hát, một mình nghe, một mình mở hội đồi Lim, lúng liếng, đắm say, chân tình lai láng.Thế mà sau một tuần đi công tác xa về, con tôi đã mếu máo níu áo ngoài cửa đòi tôi đi tìm lão Tầm Xuân. Thì ra lão đã bỏ đi... Tự nguyện theo lão là con chó mập ú của bà Tư cầy. Dường như chán gặm xương đồng loại, nó bỏ theo lão Tầm Xuân.Tôi cũng vô tình quên lão nếu không có lần gặp lại ở Hàng Xanh, Sài Gòn cách đó hai năm.Ðó là một buổi trưa nắng chang chang. Con hẻm em gái tôi ở vang lên tiếng rao lạc lõng: “Ai hàn xoong hàn nồi, mài dao mài kéo không...? – Tiếp liền sau một giọng hát cất lên: ”Khi tương phùng khi tương ngộ, xuôi lên bộ văng vẳng tơ tình... thương nhớ sầu oanh, lẻ loi chim nhạn. Bạn tình ơi...”. “Ôi!”. Lão. Lão chứ còn ai nữa. Không kịp xỏ dép, tôi chạy nhào ra hẻm gọi ơi ới: “Lão mài dao... lão Tầm Xuân”. Lão quay phắt lại rồi ôm chầm lấy tôi mừng rỡ. Mới hai năm mà lão già thêm nhiều. Lão đã thực sự già thêm nhiều. Lão đã thực sự già! Gương mặt chằng chịt nếp nhăn lỗ chỗ nốt rỗ như tấm gỗ mọt. Ðôi mắt mờ đục, giọng hát khào khào. Lão mang lỉnh kỉnh dụng cụ hàm mài. Câu quan họ lầm lũi lạc theo, lạc lõng trong thành phố hoa lệ. Con chó vàng của bà Tư cầy lẽo đẽo theo bên. Chỉ khác là nó không còn mập ú nữa, nó xơ xác gầy nhom như chủ.Chúng tôi tấp vào quán nước bên đường. ở đó tôi được biết vì sao lão bỏ đi đột ngột. Bà chủ quán thịt cầy cùng dãy với bà Tư béo bảo có gặp một bà người Bắc đi xin ở Gia Ðịnh biết hát quan họ và y hệt cô Xuân của lão. Thế là họ đi!... Quán bà Tư mất hấp lực, đâu lại vào đấy. Tôi nghĩ thế nhưng không nói ra, sợ lão buồn. Tôi định bụng khuyên lão trở về quê. Không ngờ lão cũng nói:- May gặp nhau lần cuối... Tuần sau tôi về chú ạ. Tiền tàu xe đủ rồi... Tôi về để mười ba tháng Giêng tới dự hội Lim lần cuối. Hội Lim giờ đâu như xưa nữa... Nhưng tôi vẫn nghe tiếng trống vào hội giục giã lòng tôi. Tôi yếu rồi! Tôi đã nghe đất gọi. Quê gọi. Ðành hẹn kiếp sau vậy...Tôi nhìn lão, còn lão nhìn dòng xe cộ nườm nượp đến chóng mặt. Chiều tà dần trong đôi mắt màu hoàng hôn.- Lâu ngày gặp lại, tui với lão mần đích đáng một bữa thịt chó đi! Ở đây có Bồng Lai quán nghe nói khá lắm, ăn hoài không đã miệng. Tui mời lão.- Cảm ơn chú! Nhưng năm rồi tôi không đụng thứ đó. Tôi sẽ không đụng cho đến ngày cuối đời...Lão cúi xuống vỗ về vào lưng con vàng. Con chó ngước đôi mắt nặng trĩu yêu thương nhìn lão rồi không dằn lòng nổi, nó đứng trên hai chân sau, vừa kêu ư ử hài lòng vừa liếm khắp người lão.- Chú thấy đấy! Cứ tưởng tượng nó thành những đĩa dồi, đĩa luộc, đĩa xào, xáo... là tôi lợm giọng rồi... Không có nó tôi không sống nổi ở đây đến hai năm... Nó sưởi ấm tôi, kéo tôi đứng dậy, nó bị đánh què cẳng vì ăn cắp của người ta để cho tôi ăn những ngày tôi ốm... Nó từng sung sướng... theo tôi nó mới cực thế này... Nó...Lão nghẹn ngào, mắt hấp háy. Giọt lệ tuổi già chắt mãi mới thành dành cho kẻ đồng hành bốn chân!Khoảng mươi hôm sau, con dao chặt thịt bị mẻ, em tôi nhắc:- Không thấy lão mài dao kéo vào xóm... cái lão thật lạ, không lo kiếm khách chỉ lo hát... Có đồng nào mua đồ ăn lại chia đôi cho chó một nửa. Con chó cũng đáo để, không bao giờ ăn trước chủ dù có đặt trước miệng... Người già cũng lạ! Trại dưỡng lão em làm có một bà già... nhập trại ba năm không nói một lời, tưởng câm, khi gần chết hóa ra biết hát. Cái giọng cái điệu, cái lời na ná như lão mài dao.- Ðâu? Bà ấy ở đâu? – Tôi chụp tay nó.- Ở trong, sắp chết rồi. Mà anh hỏi làm gì?Tôi kéo áo nó, bắt nó chở đi rồi tôi sẽ giải thích. Dọc đường tôi kể vắn tắt chuyện lão Tầm Xuân đi tìm nửa câu quan họ. Tôi linh cảm đó là cố Xuân.- Ba năm trước, một người đàn ông sang trọng, gương mặt tràn trề nhân ái dẫn bà ấy vào trại. Ông ta bảo với Ban quản đốc ông ta thấy bà già cơ nhỡ, ngủ trước hiên nhà nên thương xót dẫn giúp vào đây. Ba năm ở đây, bà ấy sống lặng lẽ như bóng không hề nói, nằm quay mặt vào vách. Nhưng cách đây một tháng, dường như không nén được nỗi đau đớn, bà ta khóc rống lên: “Hắn là con tôi, cái thằng dẫn tôi vào đây chính là con tôi”. Mấy hôm nay bà ta hát... không ăn, không uống... chỉ phều phào hát... – Em tôi kể.Bây giờ nằm trước mặt tôi, trên chiếc chiếu tỏa mùi khai thối trải trên nền gạch loang lổ là bà cụ tóc trắng như bông vấn vành khăn nhung đã sờn, mỏng như giấy, mặt vàng, hơi thở dốc... “Dong dỏng, trắng tươi, hát hay, xinh đẹp...”Hình hài ấy không còn nét nào giống lão Tầm Xuân tả. Thời gian cho, thời gian lấy hay tôi đã lầm? Tôi định lui ra nhưng chiếc lá khô ấy bỗng khẽ khàng động đậy. Rồi từ lồng ngực thoi thóp hơi tàn, phều phào những tiếng, lời rời rạc. “Bạn tình ơi! Duyên bén ngãi, trước không phải... sau đền... duyên... ba sinh”.- Ðúng rồi! Cố Xuân đây rồi! – Tôi reo to giữa những gương mặt già nua ngơ ngác – Lão Tầm Xuân ơi! Nửa câu quan họ đây rồi.Lão tìm ba năm, nay biết tìm lão ở đâu.Bà cụ mấp máy môi hát, âm sắc yếu dần... yếu dần... Nhanh trí, tôi nắm lấy bàn tay còn xương với da ấy và tôi lập lại lời hát của lão Tầm Xuân: “Khi tương phùng, khi tương ngộ, xuôi lên bộ văng vẳng tơ tình...” Giọng hát vụng về thô ráp như đọc của tôi cất lên, và lạ lùng thay, nó tựa những giọt nước cành dương diệu kỳ... Mí mắt bà lão động đậy, ngực phập phồng rồi giọng hát yếu ớt cứ rõ dần hòa với cái giọng vịt đực ồ ồ của tôi. Những bà già trên nền nhà lập tức ngồi dậy. Họ không hiểu nhưng họ vỗ tay như những đứa trẻ. Họ reo, họ hò, họ hát ru... Những đôi mắt mờ mờ đục chất ngất nỗi buồn và bất hạnh bỗng háo hức như mắt trẻ con. Một bà lão lục đục trong hai ba lần áo một cái gói nhỏ mở hai ba lớp nylon bày một nhúm thịt chà bông, chần chừ ngắm rồi nhón tay bốc hai sợi thịt đem tới đút vào miệng tôi một sợi, miệng cố Xuân, bị lời hát đẩy ra, còn trong miệng tôi, trào thành nước mắt!Tôi lập tức đạp xe đi quanh vùng Gia Ðịnh tìm lão Tầm Xuân nhưng bóng lão bặt tăm... Hình như lão đã về quê rồi. Em gái tôi góp ý nhắn lão trên tivi. Mẩu tin kỳ quái được nhắc lại hai hôm: “Lão Tầm Xuân! Ðã tìm ra nửa câu quan họ. Ðến gấp trại dưỡng lão số 3, đường... Mau lên kẻo không kịp”.Không kịp thật. Cố Xuân hắt ra hơi thở cuối cùng, lão vẫn bặt tăm. Chiếc xe tang của trại đưa cố đến lò thiêu. Không một vành khăn, không dòng nước mắt.Có lẽ giờ này lão Tầm Xuân đang lê bước trở về. Nửa câu quan họ lầm lũi theo lão... Chơi vơi... Chơi vơi...


Quế Hương




.
Find all posts by this user
Like Post Quote this message in a reply
[-] The following 2 users Like KimDung's post:
HongNhung (03-05-2019), XuanLan (03-18-2019)
03-17-2019, 06:48 AM (This post was last modified: 03-17-2019 04:13 PM by KimDung.)
Post: #2
RE: Câu hát tìm nhau
Từ thuở nằm nôi KD đã được ngủ êm trong dòng nhạc dân ca theo điệu ru của bà với mẹ.

Lớn lên một chút sống trên vùng di cư Bảo-Lộc trong đó có nhiều làng nhỏ, các xứ đạo nhỏ ấy cứ mỗi tháng năm về lại tổ chức thi rước kiệu hoa, mấy đứa nhỏ được chọn múa dâng hoa. Các liền anh liền chị lại có dịp khoe tài với những điệu hát ca trù, hát quan họ của miền quê Bắc xưa. KD được chọn vào đội múa lại được học hát điệu dân ca.

Xứ Tân Hà là dân Hà-Nội nằm sát bên xứ Thánh-Tâm là dân Bắc-Ninh nhưng cùng là một thôn nên cùng vào một đội. Mỗi buổi chiều sau giờ đồng áng các bà các mẹ lại tập trung tại nhà hội quán tập những bài ca dâng vãn theo điệu hát Bắc-Ninh cho lũ trẻ. Họ quen biết nhau và thân thiện với nhau từ dạo ấy. Những ngày chủ-nhật rảnh rỗi trong năm các ông các bà thường hay ghé nhà KD hát với nhau. KD được nghe những điệu dân ca quan họ và được nghe kể về ngày chẩy hội bên Bến Sông Cầu. KD mê dân ca Quan Họ Bắc-Ninh từ dạo ấy.

Các ông bà đến hát với nhau họ không ngồi trên ghế mà ngồi xếp chân vòng như ngồi thiền trên chiếc chiếu hoa được bà nội đặt đan riêng. Lúc nghỉ họ không uống rượu mà chỉ uống trà và ăn trầu.

Hát quan họ có nhiều kiểu hát nhưng KD thích những bài hát đôi. Lời ca của những bài hát đôi thường nói về tình yêu , sự gắn bó chung thủy, quí mến và tôn trọng lẫn nhau. KD cũng thích những bài hát nhóm tả cảnh vật, chim muông, làng mạc, đồng lúa... thật an bình. Những câu ca quan họ của người xưa rất mộc mạc, nhẹ nhàng mỏng manh. Vì lời ca mộc mạc mỏng manh nên người hát phải luyện giọng hát làm sao cho vang, rền, nền nảy. Phải dùng cử chỉ hơi nhí nhảnh, dùng đôi mắt lúng liếng đưa tình cho câu hát đượm tình cảm sâu lắng, ngọt ngào mượt mà làn điệu dân ca ngũ cung thoáng chút buồn buồn kín đáo. Ai có khả năng hát và diễn đạt để người thưởng thức cảm được tình yêu "cái thú đau thương dễ ai hiểu được" thì được bầu làm anh cả chị cả, rồi đến anh hai chị hai, anh ba chị ba.v.v..

Trên chiếu trầu nước khi mọi người tập hát hay trong những buổi thi hát giao duyên làng này với làng kia người hát đa tình như thế nhưng trong đời thường tình yêu của họ là quan hệ kết nghĩa anh em, kết tình tri kỷ. Có lần KD hỏi mẹ "có ai đi hát mà cưới nhau không?" mẹ bảo "không" D hỏi "sao vậy mẹ?" mẹ trả lời "lấy nhau là do cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, vả lại con gái trong làng khi nào không có ai chấm thì mới phải đi lấy giai làng khác", hèn chi trong làng cứ thấy có họ thông gia loanh quanh với nhau . Có lần KD lại hỏi bố "sao bác A cứ phải tìm hát với bác B mà không chịu hát với người khác?" Bố bảo "Duyên thiên định rồi con ạ, cặp đôi họ chỉ nhìn ánh mắt của nhau không cần nghe hết lời hát là họ đoán được ý của nhau và họ biết họ phải đối đáp ra sao để thắng được nhau và thắng được những cặp đôi khác. bố tỷ dụ tại sao cô Hoàng -Oanh lại phải hát với chú Trung-Chỉnh thì mới bắt vào tai người nghe? không giải thích được con ạ". Cái tình quan họ ngày xưa thật là đáng kính.

Cặp đôi quan họ, người liền anh và hai năm cuối đời của cố Xuân người liền chị hỉnh như có "thần giao cách cảm", cố Xuân buồn không nói, chỉ hát quan họ chờ người tri kỷ. Ông Tư còn chút sức lực cố đi tìm nửa câu quan họ của mình dù cho bị người đời miệt thị, lợi dụng hay gì gì đi nữa ông vẫn điềm nhiên không buồn phiền họ mả chỉ hát câu quan họ, ông chỉ buồn mỗi khi nghe người ta nói với ông về những tin "nửa câu quan họ" của ông đang cực khổ ở một nơi nào đó ông liền lặn lội kiếm tìm.

Cái tình yêu trong lời ca mộc mạc, sự gắn bó chung thủy cũng gắn bó người ca nó với tình tri kỷ là thế, và còn hơn thế nữa người liền anh quan họ luôn sống tự trọng, làm những việc nhỏ bé thấp hèn nhất để kiếm sống, luôn sống cao thượng không chấp nhất với những ngạo mạng của người đời . Con chó biết yêu người liền anh quan họ, KD cũng đang yêu nghệ sĩ quan họ, lời ca quan họ, tình người quan họ. Và Làn điệu dân ca quan họ cũng làm rung động cả UNESCO.

Ngoài đời vẫn có người từng ngày đi tìm một tri kỷ cho đúng nghiã.

Trởi đất mang mang
ai người tri kỷ... lại đây cùng ta
Chung cạn một hồ trường!
Hồ trường, hồ trường ta biết rót về đâu !!!
(Hồ trường. Ng~ Bá TRạc)


https://www.youtube.com/watch?v=c9U6HQwiFt0 - Translate this page
Video for tren rung 36 thu chim▶ 2:25
Nov 25, 2011 - Uploaded by Nghệ sĩ Hữu Duy

Thân ái
KimDung
Find all posts by this user
Like Post Quote this message in a reply
[-] The following 2 users Like KimDung's post:
KhangPham (03-18-2019), XuanLan (03-18-2019)
03-18-2019, 10:03 AM (This post was last modified: 03-18-2019 11:49 AM by KhangPham.)
Post: #3
RE: Câu hát tìm nhau
Dân ca Quan họ là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam. Nó được hình thành và phát triển ở vùng văn hóa Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay với dòng sông Cầu chảy qua được gọi là "dòng sông Quan họ". Kinh Bắc là một tỉnh cũ bao gồm cả hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang (và một số nơi của Lạng Sơn, Hưng Yên, Hà Nội ngày nay). Quan họ cũng được hình thành ở vùng văn hóa Kinh Bắc này. Do có sự chia tách về địa lý sau đó mà Quan họ còn được gắn tên cục bộ địa phương như quan họ Kinh Bắc, Bắc Giang hay Bắc Ninh.

Anh đã có dịp về thăm quê hương Kinh Bắc năm 2014, và đã được thưởng thức "live" những bài ca Quan họ ... Thường thường bài hát Quan họ do đôi trai gái ca đối nhau. Ngày hội lớn ở quê hương Quan họ là ngày Hội Lim .... Hội Lim là một lễ hội lớn đầu xuân vùng Kinh Bắc được tổ chức trên địa bàn huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.


[Image: Hinh%201%20%2821%29-1876149281.jpg?m=1552923577]


Có dịp KD nên về thăm xứ Kinh Bắc và thưởng thức tận mắt những bài Quan họ dân gian ...


Người ơi! Người ởi đừng về,
Người ơi! Người ởi đừng về,
Người về em vần (í i ì i), (Có mấy) khóc i thầm
Đôi bên (là bên song như) vạt áo
(Mà này cũng có a ướt đầm), Ướt đầm như mưa.
Người ơi! Người ởi đừng về, ....



Còn chữ "tri kỷ " ý nghĩa rất mênh mông, phải chăng:

Người tri kỷ không tìm mà đến,
Có đi tìm cũng chẳng thấy nơi đâu....!??

[Image: view?usp=sharing]
Visit this user's website Find all posts by this user
Like Post Quote this message in a reply
[-] The following 2 users Like KhangPham's post:
Hung Nguyen (03-18-2019), XuanLan (03-18-2019)
Post Reply 


Forum Jump:


User(s) browsing this thread:
1 Guest(s)

Return to TopReturn to Content